CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH TẠI KHU DU LỊCH SINH THÁI 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Du lịch và du lịch sinh thái 1. Du lịch Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến.
Tuy nhiên, khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Có quan niệm cho rằng: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa [15, tr. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”.
Trên cơ sở các yếu tố hợp lý của các định nghĩa về du lịch nêu trên, khái niệm du lịch sử dụng trong luận văn được hiểu là: Du lịch là bao gồm tất cả các mối quan hệ, các hoạt động liên quan đến chuyến đi và lưu trú của con người ở ngoài nơi cư Luan van 9 trú thường xuyên của họ nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, khám phá, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, giải trí, phát triển thể chất và tinh thần kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa trong một khoảng thời gian nhất định. Như vậy, một mặt, du lịch mang ý nghĩa thông thường của từ: Việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí. Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới góc độ một hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra. Ở khía cạnh thứ nhất, trong điều kiện kinh tế phát triển, du lịch là một hoạt động không thể thiếu được trong cuộc sống bình thường của mỗi người dân.
Ở các chuyến du lịch trong và ngoài nước, con người không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí,. mà còn thỏa mãn cả những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần. Ở khía cạnh thứ hai, du lịch là một hiện tượng KT-XH thu hút hàng tỷ người trên thế giới. Bản chất kinh tế của nó là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hóa phục vụ việc thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của khách du lịch.
Du lịch sinh thái Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN: International Union for Conservation of Nature) đã định nghĩa: “DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, địa điểm là những khu vực thiên nhiên còn được bảo tồn, nhằm mục đích chiêm ngưỡng và trân trọng vẻ đẹp tự nhiên (và song song đó là những giá trị văn hóa, trong quá khứ lẫn hiện tại), giúp thúc đẩy việc bảo tồn, giảm thiểu tác động của khách du lịch, và là nguồn thu nhập to lớn cho sự tham gia tích cực vào nền kinh tế xã hội của người dân địa phương”. [16] Hiệp hội DLST Thế giới (The Internatonal Ecotourism society) cũng đưa ra định nghĩa tương tự về DLST: “DLST là việc đi lại có trách nhiệm đối với các khu thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [6, tr. Luật Du lịch Việt Nam (2017) đã nêu khái niệm về DLST như sau: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường”. [8] Luan van 10 Như vậy, các định nghĩa nói trên tuy đề cập đến DLST dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều thống nhất một số đặc trưng cơ bản của DLST như sau: - Một là: DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, khách du lịch tìm đến các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia (VQG), rừng nguyên sinh, hoặc các tài nguyên thiên nhiên khác chưa bị tàn phá để tìm hiểu, sống hoà mình với thiên nhiên.
- Hai là: Các phương tiện và việc sắp xếp để hỗ trợ các chương trình hoạt động kinh doanh (HĐKD) DLST bao gồm các trung tâm thông tin, đường mòn tự nhiên, cơ sở lưu trú (CSLT), ăn uống sinh thái, sách báo và các tài liệu khác. - Ba là: Các cơ quan cung ứng các dịch vụ du lịch, các cơ quan bảo tồn, các hãng lữ hành, các công ty du lịch, các đơn vị tổ chức. và khách du lịch tham gia vào DLST có trách nhiệm tích cực thực hiện các giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường và văn hoá. Đây là điểm quan trọng để phân biệt DLST với du lịch tự nhiên.
- Bốn là: Các chương trình hoạt động chủ yếu do hướng dẫn viên địa phương, những người có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm về tài nguyên thiên nhiên xung quanh họ được thiết lập dựa vào TNTN và văn hoá của khu vực. Khu du lịch và khu du lịch sinh thái 1. Khu du lịch - Khái niệm: Theo Luật Du lịch (2017): “Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch (TNDL), được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia” [8].
Trên phương diện địa lý, khu du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ. Khu du lịch là một vị trí địa lý mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi của người đó. Xem xét trong mối quan hệ kinh tế du lịch, khu du lịch được hiểu là yếu tố cung du lịch. Sở dĩ như vậy là do chức năng của khu du lịch chính là thỏa mãn nhu cầu mang tính tổng hợp của khách du lịch.
Suy cho cùng, khu du lịch là yếu tố hấp Luan van 11 dẫn du khách, thúc đẩy sự thăm viếng và từ đó làm tăng sức sống cho toàn bộ hệ thống du lịch. Cho nên xét trên nhiều phương diện, khu du lịch là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống du lịch. - Phân loại + Phân loại khu du lịch dựa trên cơ sở TNDL tự nhiên: Khu du lịch vùng biển, đảo: Ngày nay, việc khai thác các bãi biển và đảo để phục vụ du lịch đã trở thành một hiện tượng rất phổ biến trên thế giới. Khu du lịch biển, đảo được xây dựng và phát triển trên cơ sở khai thác TNDL tự nhiên là ven biển, nước biển, bãi cát và ánh nắng mặt trời.
HĐDL biển thường gắn với các hoạt động nghỉ dưỡng, tắm biển, chữa bệnh, an dưỡng cũng như các dịch vụ giải trí, thể dục thể thao khác. Khu du lịch vùng núi: Điểm đến du lịch vùng núi thường được xây dựng ở những khu vực có địa hình cao, khí hậu trong lành và có thể khai thác không chỉ các TNDL tự nhiên mà cả những TNDL nhân văn. Đối với TNDL tự nhiên, có thể tổ chức các loại hình du lịch như: nghỉ mát vào mùa hè, trượt tuyết, ngắm tuyết rơi vào mùa đông. Bên cạnh đó còn có các loại hình du lịch leo núi (trecking), du lịch mạo hiểm, du lịch khám phá hệ sinh vật đa dạng với nhiều loài động vật quý hiếm và thực vật độc đáo.
Đây là điều kiện tốt để phát triển HĐDL kết hợp tham quan, nghiên cứu, giáo dục và bảo vệ cảnh quan môi trường. Khu du lịch ở các vùng nước khoáng: Nước khoáng là nước lấy từ nguồn suối khoáng, có thành phần gồm nhiều hợp chất muối và hợp chất lưu huỳnh. Theo truyền thống thì nước khoáng được sử dụng hoặc uống ở nguồn suối khoáng tại các spa, nhà tắm công cộng hay giếng khoan. Nhiều trung tâm du lịch đã mọc lên quanh các nguồn nước khoáng từ thời cổ đại.
Ngoài ra, cũng phải kể đến một nguồn tài nguyên quý thường đi kèm với nước khoáng - đó là những tích tụ bùn khoáng hình thành tại nơi có nguồn nước khoáng, có tác dụng chữa bệnh rất tốt bằng các liệu pháp chườm đắp, ngâm vùi.; đồng thời, có thể chế biến thành hàng mỹ phẩm (kem dưỡng da). Luan van 12 Ở những nơi có nguồn nước khoáng, các nhà đầu tư đã xây dựng và kinh doanh loại hình du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh bằng nước khoáng và bằng bùn. Khu du lịch ở các VQG: VQG tại Việt Nam là một danh hiệu được Chính phủ Việt Nam công nhận chính thức. Thông thường, VQG nằm trên địa phận nhiều tỉnh, thành phố thì do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam quản lý còn vườn quốc gia nằm trong địa giới một tỉnh, thành phố thì do UBND tỉnh, thành phố đó quản lý.
Tại các VQG, khách du lịch được thu hút bởi cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, không khí trong lành, rừng cây nguyên thủy, sự đa dạng sinh học. Khu du lịch là các làng quê, nông thôn: Trên thế giới, du lịch nông thôn đã ra đời từ lâu. Loại hình du lịch này gắn liền với sự hình thành ngành đường sắt ở châu Âu. Tuy nhiên, đến những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ 20, du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch phổ biến.
Nó phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia như: Bỉ, Pháp, Hungary, Bungary, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển… lúc bấy giờ, khu du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các loại hình khu du lịch ở nông trại, khu du lịch di sản, khu du lịch xanh, khu du lịch nhà nghỉ ở nông thôn, khu DLST, homestay. Ở Việt Nam, loại hình du lịch nông thôn mới xuất hiện trong những năm gần đây. Nó được nhắc tới với nhiều tên gọi khác nhau như khu du lịch trang trại, khu du lịch miệt vườn, khu du lịch sông nước, khu du lịch làng nghề, khu DLST… Mỗi yếu tố đều phản ánh yếu tố cốt lõi để tạo ra đặc trưng của từng thể loại du lịch trong loại hình du lịch nông thôn.