Tổng quan nghiên cứu

Ngày 23 tháng 6 năm 2014, Quần thể danh thắng Tràng An với quy mô diện tích khoảng 12.000 ha đã chính thức được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, trở thành di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Sự kiện lịch sử này đã mở ra cơ hội đột phá cho ngành kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình, đồng thời đặt ra những thách thức lớn đối với công tác quản lý nhà nước trong việc điều tiết các hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái. Mặc dù lượng khách du lịch đổ về Tràng An tăng trưởng nhanh chóng, song hiệu quả kinh doanh thực tế trong giai đoạn 2014-2016 vẫn chưa tương xứng với tiềm năng khi doanh thu du lịch bình quân trên đầu khách còn khiêm tốn, tỷ lệ khách lưu trú thấp và thời gian lưu trú của khách quốc tế còn ngắn.

Trước bối cảnh đó, nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch tại khu du lịch sinh thái Tràng An. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý giai đoạn 2014-2016 và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020. Nghiên cứu giới hạn không gian tại khu du lịch sinh thái Tràng An thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình và đối tượng nghiên cứu là các cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương cùng các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là cung cấp luận cứ khoa học giúp địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến, gia tăng tỷ lệ đóng góp của du lịch vào tăng trưởng kinh tế địa phương và bảo vệ nguyên vẹn 100% giá trị cảnh quan tự nhiên của vùng lõi di sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế của Mai Văn Bưu và Đỗ Hoàng Toàn (năm 2008) cùng lý thuyết phát triển du lịch sinh thái bền vững của Kreg Lindberg và Donald E. Hawkins (năm 1999). Theo đó, quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch được tiếp cận dưới góc độ quản trị công vĩ mô, bao gồm các chức năng định hướng chiến lược, ban hành thể chế pháp lý, tổ chức bộ máy thực thi, xúc tiến thị trường và thanh tra kiểm soát trật tự kinh doanh. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm: du lịch sinh thái, khu du lịch sinh thái, hoạt động kinh doanh du lịch và quản lý nhà nước đối với kinh doanh du lịch sinh thái theo tinh thần Luật Du lịch Việt Nam năm 2017.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực chứng sơ cấp trong mốc thời gian từ năm 2016 đến năm 2017:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập và tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Nghị định số 92/2007/NĐ-CP, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV, cùng các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh du lịch giai đoạn 2014-2016 của Sở Du lịch Ninh Bình.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát định lượng trên cỡ mẫu 100 đối tượng, bao gồm 50 cán bộ quản lý nhà nước về du lịch và 50 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tại Tràng An. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập đầy đủ ý kiến từ cả cơ quan quản lý và đơn vị thực thi kinh doanh. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Sở Du lịch Ninh Bình, Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư, Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An và kết hợp phương pháp quan sát thực địa.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phần mềm thống kê Microsoft Excel để tổng hợp dữ liệu, so sánh chỉ số qua các năm và phân tích định tính nhằm tìm ra nguyên nhân của các bất cập quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch tại khu du lịch sinh thái Tràng An giai đoạn 2014-2016 ghi nhận bốn phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, lượng khách du lịch tăng trưởng vượt bậc sau khi Tràng An được công nhận di sản thế giới năm 2014, với tốc độ tăng trưởng khách bình quân đạt trên 15% mỗi năm. Tuy nhiên, cơ cấu chi tiêu của du khách còn rất hạn chế khi có hơn 75% lượng khách chỉ đi về trong ngày, số ngày lưu trú bình quân chỉ dao động từ 1,2 đến 1,4 ngày mỗi khách và tỷ lệ khách sử dụng dịch vụ cao cấp dưới 10%.

Thứ hai, công tác xây dựng quy hoạch và ban hành chính sách đã tạo nền tảng định hướng tốt, với 68% cán bộ quản lý được khảo sát đánh giá cao tính khả thi của quy hoạch tổng thể. Tuy vậy, hơn 42% doanh nghiệp kinh doanh du lịch phản ánh quy trình cấp phép đầu tư và các tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật còn rườm rà, thiếu tính liên thông giữa các cơ quan hành chính.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch sinh thái chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Hơn 70% lao động trực tiếp, đặc biệt là hơn 2.000 người tham gia chèo đò phục vụ du khách, là cư dân nông nghiệp chuyển đổi sang làm dịch vụ, chỉ trải qua các khóa tập huấn ngắn hạn dưới 10 ngày và thiếu kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ cũng như kiến thức sâu về bảo tồn sinh thái.

Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm bước đầu giữ vững an ninh trật tự, song vẫn còn khoảng 18% du khách và doanh nghiệp phản ánh tình trạng chèo kéo, bán hàng rong tự phát và nâng giá dịch vụ ăn uống, trông giữ phương tiện cục bộ trong mùa cao điểm lễ hội.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự phối hợp chưa đồng bộ giữa Sở Du lịch Ninh Bình, Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư và Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An. Nguồn lực tài chính dành cho xúc tiến quảng bá du lịch chuyên nghiệp còn eo hẹp, chỉ chiếm khoảng 3-5% tổng nguồn thu ngân sách từ du lịch của tỉnh.

Khi so sánh với kinh nghiệm quản lý tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tỉnh Quảng Bình (quần thể hơn 300 hang động hợp tác cùng các tổ chức quốc tế GTZ và KFW để phát triển du lịch bền vững) và Vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Cạn (quy mô 23.000 ha với Chỉ thị số 20/CT-UBND năm 2015 về quản lý môi trường kinh doanh), Tràng An cần chuyển trọng tâm từ quản lý hành chính đơn thuần sang mô hình quản trị điểm đến có sự tham gia của các bên liên quan. Các dữ liệu này được thể hiện rõ nét qua hệ thống biểu đồ cột đánh giá mức độ hài lòng của cán bộ quản lý và bảng tổng hợp so sánh các chỉ tiêu kinh doanh giai đoạn 2014-2016, làm cơ sở vững chắc cho các định hướng phát triển đến năm 2020.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch tại khu du lịch sinh thái Tràng An, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Hoàn thiện quy hoạch phân khu chức năng và chính sách ưu đãi thu hút đầu tư hạ tầng xanh: Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình rà soát quy hoạch chi tiết 12.000 ha vùng di sản; ban hành chính sách ưu đãi thuế đất nhằm thu hút ít nhất 3 dự án khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp đạt chuẩn quốc tế từ 4-5 sao trong giai đoạn 2017-2020.
  • Chuẩn hóa quy trình cấp phép kinh doanh và tăng cường thanh tra liên ngành: Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư phối hợp với Thanh tra Sở Du lịch và Công an tỉnh duy trì tối thiểu 2 đợt kiểm tra liên ngành định kỳ mỗi năm; thiết lập đường dây nóng 24/7 tại các bến thuyền để xử lý vi phạm, hướng tới mục tiêu 100% cơ sở kinh doanh niêm yết giá công khai và giảm tỷ lệ khiếu nại của du khách xuống dưới 1% mỗi năm trước năm 2020.
  • Chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa nguồn nhân lực du lịch sinh thái bản địa: Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An chủ trì liên kết với các trường đại học chuyên ngành tổ chức đào tạo, bồi dưỡng văn hóa giao tiếp và nghiệp vụ du lịch sinh thái cho 100% cán bộ quản lý và ít nhất 85% đội ngũ lao động trực tiếp (bao gồm hơn 2.000 người lái đò) hoàn thành trước năm 2020.
  • Đổi mới chiến lược xúc tiến quảng bá và liên kết phát triển vùng: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Ninh Bình triển khai chiến dịch định vị thương hiệu di sản Tràng An trên các nền tảng số và hội chợ du lịch quốc tế; đẩy mạnh liên kết tour tuyến với Hà Nội, Quảng Bình và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đặt mục tiêu tăng thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế từ 1,3 ngày lên 2,5 ngày và nâng doanh thu du lịch tăng trưởng 18-20% mỗi năm trong giai đoạn 2018-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Du lịch, Phòng Văn hóa và Thông tin, Ban Quản lý di sản: Nắm bắt khung quản trị điểm đến di sản thế giới, quy trình phân cấp thẩm quyền và cơ chế điều phối liên ngành để ứng dụng vào công tác xây dựng chính sách quản lý du lịch sinh thái tại địa phương.
  • Doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và nhà đầu tư dịch vụ du lịch: Hiểu rõ các quy định pháp lý, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong vùng di sản và xu hướng phát triển sản phẩm du lịch sinh thái chất lượng cao nhằm xây dựng phương án kinh doanh tối ưu.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị du lịch: Sử dụng luận văn như một công trình mẫu về phương pháp luận kết hợp khảo sát định tính và định lượng với bộ mẫu 100 đối tượng trong nghiên cứu chính sách công.
  • Giảng viên và viện nghiên cứu chuyên ngành Du lịch, Kinh tế phát triển: Khai thác hệ thống dữ liệu thực chứng giai đoạn 2014-2016 và bài học kinh nghiệm so sánh liên tỉnh làm học liệu, tình huống nghiên cứu điển hình phục vụ giảng dạy môn Quản lý nhà nước về du lịch.

Câu hỏi thường gặp

  • Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý kinh doanh du lịch tại Tràng An được luận văn chỉ ra là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối giữa tăng trưởng số lượng khách và hiệu quả kinh tế thực tế. Khoảng 75% du khách chỉ tham quan trong ngày, thời gian lưu trú bình quân dưới 1,4 ngày do thiếu hạ tầng lưu trú cao cấp và sản phẩm dịch vụ ban đêm.

  • Quy mô mẫu khảo sát 100 đối tượng được thiết kế như thế nào để đảm bảo tính khách quan? Nghiên cứu phân bổ đều 50 phiếu khảo sát cho cán bộ quản lý nhà nước thuộc các cấp tỉnh, huyện, ban quản lý và 50 phiếu cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trên địa bàn Tràng An, giúp đối chiếu đa chiều giữa cơ quan quản lý và đối tượng chịu sự quản lý.

  • Bài học từ Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Ba Bể được ứng dụng cho Tràng An như thế nào? Tràng An vận dụng kinh nghiệm của Phong Nha - Kẻ Bàng (hơn 300 hang động) trong việc hợp tác quốc tế xây dựng quy hoạch du lịch bền vững và bài học từ Ba Bể (23.000 ha) về thiết lập đường dây nóng, xử lý nghiêm tình trạng chèn ép giá mùa cao điểm.

  • Tại sao việc đào tạo đội ngũ người chèo đò tại Tràng An lại mang tính quyết định đến phát triển bền vững? Hơn 2.000 người chèo đò là lực lượng tiếp xúc trực tiếp nhiều nhất với du khách suốt hành trình tham quan. Nâng cao văn hóa ứng xử và kiến thức bảo tồn cho nhóm lao động này là giải pháp cốt lõi để gìn giữ hình ảnh văn minh của di sản thế giới.

  • Mục tiêu cụ thể về thời gian lưu trú và doanh thu du lịch Tràng An hướng đến năm 2020 là gì? Luận văn xác định mục tiêu kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch từ 1,3 ngày lên mức 2,5 ngày mỗi khách và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch toàn tỉnh đạt trên 18% mỗi năm thông qua đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ sinh thái.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận khoa học về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái tại khu di sản hỗn hợp thế giới quy mô 12.000 ha.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện giai đoạn 2014-2016 thông qua khảo sát 100 cán bộ quản lý và doanh nghiệp cùng các phỏng vấn chuyên sâu tại tỉnh Ninh Bình.
  • Nhận diện chính xác 4 nút thắt lớn về cơ cấu chi tiêu thấp, chất lượng nhân lực bản địa chưa cao, hạ tầng lưu trú thiếu đồng bộ và công tác xúc tiến quảng bá còn manh mún.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gắn liền với lộ trình đến năm 2020, xác định rõ chỉ số mục tiêu, thời hạn và phân công trách nhiệm cho từng chủ thể quản lý.
  • Thiết lập mô hình quản trị du lịch sinh thái gắn liền với bảo tồn di sản, có khả năng chuyển giao và ứng dụng thực tiễn cho nhiều khu du lịch trọng điểm trên cả nước.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với khu di sản thế giới hỗn hợp Tràng An, đặt nền móng cho giai đoạn chuyển đổi du lịch Ninh Bình từ chiều rộng sang chiều sâu. Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, các cơ quan ban ngành tỉnh Ninh Bình và cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các quy chế phối hợp liên ngành và chuẩn hóa nhân lực trong giai đoạn tiếp theo.