CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Khái quát chung về du lịch Du lịch hiện nay dần trở thành một phần hoạt động thiết yếu của con người, bất cứ cá nhân nào cũng đều mong muốn có thể đặt chân đến các miền đất mới, khám phá thế giới mới khác để có thể thỏa mãn đời sống tinh thần. Định nghĩa đầu tiên về du lịch xuất hiện năm 1811: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình và mục đích giải trí. Ở đây là động cơ chính”.
Theo ông Michael Conltman (người Mỹ) định nghĩa về du lịch cụ thể:“Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng, dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”. Các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Bao gồm hai nghĩa: “Nghĩa thứ nhất: Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng, tham quan của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật… Nghĩa thứ hai dưới góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ”. Khái niệm du lịch được định nghĩa theo Tổ chức du lịch Thế Giới IUOTO (International Union Of Travel Organization - sau này trở thành WTO) như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt 9 động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc vận hành và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở ngoài nước họ với mục đích hòa bình, nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Tại điều 04 của Luật du lịch Việt Nam 2005, thuật ngữ “du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Khái niệm và phân loại loại hình du lịch Loại hình du lịch được định nghĩa chính là các phương thức du lịch được định hình thông qua thị hiếu du lịch, sở thích, mối quan tâm cũng như nhu cầu của du khách mà từ đó đưa ra các loại hình phù hợp đáp ứng phục vụ du khách. Hiện nay, Việt Nam có rất nhiều loại hình du lịch được phân chia theo nhiều cách khác nhau: - Phân loại theo mục đích chuyến đi + Du lịch nghỉ dưỡng: đây là loại hình du lịch đáp ứng được phần lớn lượng du khách, vì sau những bận rộn ai cũng mong muốn được nghỉ ngơi, thư giãn để tái tạo năng lượng. + Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và văn hóa của Việt Nam.
Loại hình này diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt về môi trường nhằm hưởng thụ và thưởng thức giá trị thiên nhiên mang lại. + Du lịch văn hóa - lịch sử: Du lịch văn hóa lịch sử là loại hình du lịch phản ánh giá trị lịch sử nhân văn, cho bạn cái nhìn tốt đẹp về lịch sử văn hóa từng vùng miền của đất nước. Thường thì đây là những chuyến du lịch theo nhóm, kết hợp tham quan cảnh đẹp và lồng ghép vào tìm hiểu văn hóa giúp cho chuyến đi thêm phần thú vị hơn. + Du lịch thám hiểm - khám phá: Du lịch tham quan, khám phá là loại hình du lịch khá phổ biến ở nước ta bởi được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh đẹp đặc sắc thu hút mọi người tìm hiểu.
10 - Phân loại theo lãnh thổ hoạt động + Du lịch trong nước: Du lịch quốc tế (inbound) là hình thức du lịch mà khách tham quan du lịch ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài về Việt Nam để đi du lịch. + Du lịch nước ngoài: Du lịch ra nước ngoài (outbound) là một thuật ngữ phổ biến trong ngành kinh doanh dịch vụ lữ hành. Du lịch này có nghĩa là một người dân đang sống ở một quốc gia và đến quốc gia khác để du lịch, tham quan, khám phá. - Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch + Du lịch biển: Đây là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, các tỉnh thành phố có bãi biển dài, đẹp đầu tư phục vụ du lịch vui chơi, giải trí nghỉ dưỡng, tắm biển.
+ Du lịch núi: Đây là hoạt động du lịch diễn ra trong một không gian địa lý xác định, có đồi núi, địa hình và đa dạng sinh học cụ thể hoặc cộng đồng địa phương sinh sống. + Du lịch dã ngoại: Đây là hình thức du lịch bổ ích dành cho mọi lứa tuổi, thông qua việc vui chơi, giải trí ngắm cảnh đế nâng cao sức khỏe khám phá điều mới lạ. Ngoài ra còn một số cách phân loại các loại hình du lịch khác như: - Phân loại theo phương tiện giao thông: du lịch máy bay, du lịch ô tô, du lịch xe đạp,… - Phân loại theo phương tiện lưu trú: khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, bãi cắm trại, làng du lịch,… - Phân loại theo hình thức tổ chức du lịch: du lịch theo đoàn, du lịch gia đình, du lịch cá nhân, du lịch teambuilding,. - Phân loại theo phương thức hợp đồng: du lịch trọn gói hay du lịch từng phần 11 - Phân loại theo lứa tuổi: du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên, du lịch người cao tuổi - Phân loại theo thời gian du lịch: du lịch ngắn ngày hay dài ngày 1.
Vai trò và tác động của du lịch đối với nền kinh tế 1. Vai trò của du lịch đối với nền kinh tế Vai trò của hoạt động du lịch được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau: đối với du khách, đối với người dân địa phương, đối với các nhà kinh doanh, đối với nền kinh tế. Hoạt động du lịch có vai trò quan trọng: Một là, góp phần phát triển kinh tế và tăng trưởng bền vững. HĐDL có quan hệ với các hoạt động khác và tạo thu nhập quan trọng cho ngân sách của quốc gia và địa phương có tuyến điểm du lịch.
HĐDL dựa trên các tài nguyên du lịch phong phú, các giá trị về di sản văn hóa, âm nhạc, đời sống dân cư và môi trường, khí hậu. Các sản phẩm du lịch được tiêu dùng ở nơi sản xuất, đồng thời tạo nên khả năng sản xuất các sản phẩm được tiêu thụ bởi du lịch và du lịch cần đáp ứng. Từ đó, HĐDL sẽ tạo ra thu nhập qua hệ thống cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh đó, HĐDL phát triển góp phần kích thích đầu tư trong nước và ngoài nước, qua đó làm tăng tổng cầu và tăng trưởng kinh tế địa phương.
Chính vì vậy, phát triển HĐDL không chỉ mang lại nguồn thu cho ngành du lịch mà còn tác động làm gia tăng nguồn thu ở các ngành khác. Ở Việt Nam, hơn một phần ba GDP được tạo ra bởi các dịch vụ, Tổng cục Thống kê cho biết, GDP quý II năm 2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021. GDP 6 tháng đầu năm 2022 tăng 6,42%, cao hơn tốc độ tăng 2,04% của 6 tháng đầu năm 2020. Ngoài ra, HĐDL còn tác động tích cực đến kết cấu hạ tầng vật chất KT-XH và các nguồn lực khác nhau làm cho kinh tế địa phương phát triển.
Hai là, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. HĐDL là một hoạt động phức tạp, trong đó chi tiêu du lịch liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế và tác động qua lại lẫn nhau. Do đó, khi HĐDL phát triển, nó thúc đẩy 12 tăng trưởng kinh tế và góp phần làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế. HĐDL phát triển sẽ góp phần gia tăng giá trị dịch vụ, đồng thời tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP sẽ giảm dần và tỷ trọng khu vực dịch vụ sẽ tăng lên.
Ba là, tạo việc làm, tăng thu nhập. Sự phát triển HĐDL góp phần tăng qui mô việc làm, thu nhập của người dân và xã hội. HĐDL sử dụng nhiều lao động, do đó, phát triển HĐDL sẽ góp phần tích cực tạo việc làm cho một lực lượng lao động xã hội và cải thiện đời sống cho người dân địa phương. HĐDL có nhu cầu về lao động cao cả về lao động trực tiếp (trực tiếp phục vụ du lịch, làm việc trực tiếp trong ngành du lịch thường bao gồm những công việc có liên hệ trực tiếp với khách như người làm việc tại các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, cơ sở kinh doanh du lịch, điểm du lịch, vận chuyển du lịch, nhà hàng, bán lẻ và các cơ sở giải trí), cũng như lao động gián tiếp (từ các hoạt động kinh tế khác, làm việc cho các cơ sở cung ứng cho HĐDL, như dịch vụ giặt là, cung cấp thực phẩm, bán buôn, kế toán, các cơ quan nhà nước, các công ty xây dựng và sản xuất hàng xuất khẩu và hàng sử dụng trong ngành du lịch gồm sản xuất sắt thép, gỗ và xăng dầu).
Bốn là, liên kết vùng và phát triển kinh tế đối ngoại. HĐDL còn thông qua các hình thức liên kết giữa các tỉnh, giữa các vùng, giữa các nước để mở các tour du lịch. Du khách không chỉ dừng lại ở một điểm du lịch mà có nhu cầu tham quan các điểm du lịch ở các vùng, miền khác nhau. Do đó, để cạnh tranh và phát triển, các tỉnh, thành phố sẽ mở rộng liên kết với nhau và liên kết với các vùng, các nước để đa dạng các tour du lịch.
Tác động của du lịch đối với nền kinh tế * Tác động tích cực Một là, HĐDL phát triển góp phần hỗ trợ cho công nghiệp và nông nghiệp, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững.