phần mở đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tuyển sinh của trƣờng Đại học Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trƣờng Đại học Bình Dƣơng Chƣơng 3: Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tuyển sinh tại Trƣờng Đại học Bình Dƣơng 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TUYỂN SINH CỦ TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu nƣớc ngoài Trên thế giới hiện nay, đa phần các nƣớc phát triển đã lựa chọn nhiều môi trƣờng để học tập, và chƣơng trình học tại các trƣờng ngoài công lập cũng đƣợc sự ủng hộ nhiệt tình từ ngƣời học. Và từ đó, cũng có nhiều tác giả cũng đã có những nghiên cứu, báo cáo và sách đề cập về vấn đề quản lý hoạt động tuyển sinh của các trƣờng với mục đích phân tích rõ về quy trình tuyển sinh của từng trƣờng, từ đó ta thấy đƣợc chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị trong quy trình đó.
Trong đó, tiêu biểu là 2 đầu cuốn sách viết về quản lý hoạt động tuyển sinh, bao gồm: A Practical Guide to Enrollment and Retention Management in Higher Education của Marguerite J. Dennis cuốn sách cho ngƣời đọc những thông tin, nhằm cung cấp đảm bảo sự tăng lƣợng tuyển sinh cho các trƣờng, các bài báo nghiên cứu đƣa ra đƣợc những kịch bản của sự thành công của việc tuyển sinh đƣợc đảm bảo, và thực tế ở nƣớc ngoài, chỉ có 17% số sinh viên ĐH ghi danh vào các trƣờng CĐ, ĐH tƣ thục, nhiều trƣờng tƣ thục cũng đang cạnh tranh một bạn sinh viên. Không ai có thể lý giải đƣợc một cách rõ ràng về lý do vì sao và làm nhƣ thế nào để một học sinh ghi danh vào một trƣờng ĐH-CĐ, và đặc biệt là làm sao để sinh viên có thể ở lại hoặc quyết định rời khỏi trƣờng. Nếu tồn tại một công thức đơn giản nhƣ vậy, thì các trƣờng CĐ, ĐH việc tuyển sinh chất lƣợng sẽ giảm.
Trong cuốn sách này, với kinh nghiệm hơn ba mƣơi năm quản trị giáo dục ĐH tại Đại học St. John ở New Jork, một trƣờng ĐH lớn, Trƣờng Georgetown school of Dentistry, ở Washington D.C và trƣờng Đại học Suffolk ở Boston thì những ý kiến của tác giả cũng chính là kết quả của việc thực hành và tham gia nhiều hội thảo, mục đích của cuốn sách này mong muốn phục vụ cho Hiệu trƣởng của các trƣờng CĐ, ĐH và các nhà cải cách, các nhà khoa học và giảng viên. Dennis cũng tin tƣởng rằng việc tuyển sinh chỉ có thể hiệu quả khi toàn bộ thành viên trong nhà trƣờng đều tham gia, khuyến 8 khích thực hành theo nguyên tắc và thực tiễn của những lời cam kết (MJ Dennis, 1999). Enrollment Management for the 21st century của Garlene Penn đƣợc phát hành bởi Trƣờng Đại học The George Washinton năm 1998.
Ở cuốn sách này cho ngƣời đọc thấy đƣợc những thay đổi của nên giáo dục trong thế kỷ 21, các trƣờng ĐH công liên tục đƣợc trải nghiệm những thay đổi đáng kể nhờ cả những yếu tố bên ngoài và bên trong, trong đó có doanh thu. Các nhà quản lý tuyển sinh có một vị trí quan trọng, ảnh hƣởng đến sự thay đổi thƣờng xuyên trong tổ chức, và là ngƣời tham vấn cho lãnh đạo nhà trƣờng, là ngƣời cố vấn cho ban lãnh đạo, cho Chủ tịch, ban quản trị, ngƣời quản lý tuyển sinh, phải có những kỹ năng giao tiếp xuất sắc, có kiến thức sâu rộng về các chính sách có ảnh hƣởng đến việc tuyển sinh sinh viên. Tác giả cũng đề cập đến xu hƣớng và các vấn đề trong quản lý tuyển sinh tại các tổ chức giáo dục ĐH trong ba mƣơi năm qua. Nó xem xét các vấn đề liên quan đến nhà nƣớc nhƣ cách tiếp cận, trách nhiệm giải trình, và sự hỗ trợ tài chính và chính trị đang giảm; trợ cấp chính phủ liên bang và các quy định; nhận thức của công chúng về giáo dục đại học.
Ngoài ra, các nhà quản lý trƣờng ĐH công trong cả nƣớc đã đƣợc khảo sát và yêu cầu xác định các yếu tố chính của các chƣơng trình quản lý tuyển sinh; để biểu đồ cấu trúc hành chính; đánh giá chƣơng trình quản lý tuyển sinh; để thảo luận các mối quan tâm về đạo đức; Tóm tắt thông tin này, các chƣơng văn bản thực hiện nhƣ sau: bao gồm xác định bốn mô hình quản lý tuyển sinh; kiểm tra liên kết giữa quản lý tuyển sinh và các chƣơng trình thể chế khác; xem lại các nghiên cứu quản lý tuyển sinh trƣớc đó; kiểm tra thực tiễn quản lý tuyển sinh tại các trƣờng ĐH công lập lớn trên tất cả các lĩnh vực của đất nƣớc; xác định cấu trúc và sứ mệnh thích hợp; liệt kê ba mục tiêu chung của quản lý tuyển sinh; kiểm tra giá trị và độ tin cậy của giáo dục đại học; kiểm tra làm thế nào để đánh giá chất lƣợng; lƣu ý vai trò của giảng viên; cung cấp lời khuyên cho ngƣời mới; và kiểm tra một số vấn đề về đạo đức (Garlene Penn, 1999). Lịch sử nghiên cứu trong nƣớc 9 Tuyển sinh vào các trƣờng ĐH, CĐ là vấn đề đƣợc Bộ GD&ĐT quan tâm và thƣờng xuyên đƣợc điều chỉnh, cập nhật và bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế, xã hội nƣớc ta. Hiện nay, tại Việt Nam, khi các cơ sở GDĐH đang có tới hàng trăm chƣơng trình đào tạo (chuyên ngành) khác nhau, với các yêu cầu rất khác nhau về năng lực của ngƣời học, thì tìm hiểu xu hƣớng chọn ngành của học sinh THPT, phƣơng thức tuyển sinh, hình thức quảng bá, quy mô tuyển sinh, yếu tố ảnh hƣởng đến tuyển sinh… đƣợc các trƣờng CĐ, ĐH, các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà khoa học và các nhà quản lý các trƣờng CĐ, ĐH quan tâm. Các nhà nghiên cứu đã có các công trình tìm hiểu về cơ sở lý luận hoạt động tuyển sinh: cách tổ chức, hình thức quảng bá thu hút sự quan tâm của đối tƣợng tuyển sinh, điều kiện phƣơng tiện tuyển sinh, thực trạng tuyển sinh, tìm yếu tố và biện pháp tổ chức tuyển sinh, nhƣ: Thực trạng tuyển sinh của các trƣờng CĐ nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu giáo dục ĐH và nghề nghiệp, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (Thái Văn Thành, 2007) đã hệ thống các yếu tố ảnh hƣởng đến tuyển sinh cao đẳng nghề.
Trong các yếu tố đó, thì yếu tố các kênh thông tin cũng góp phần làm cho hoạt động tuyển sinh đƣợc thuận lợi, đƣa thông tin đến ngƣời học một cách nhanh nhất có thể, nhƣng vì thiếu công tác giáo dục hƣớng nghiệp và tƣ vấn chọn nghề nên các em luôn trong trạng thái loạn thông tin tuyển sinh, nhiều em không biết chọn ngành nào, trƣờng nào cho thích hợp. Hơn nữa chính sự đa dạng về kênh thông tin tuyển sinh cũng là một nhân tố góp phần làm tăng tính cạnh tranh giữa các trƣờng với nhau. Bộ GD&ĐT, các trƣờng ĐH trong nƣớc đã tổ chức nhiều hội thảo nhằm lấy ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học về phƣơng thức tổ chức kỳ thi tuyển sinh ĐH quốc gia, nhƣ: Trƣờng ĐH Giáo dục - ĐHQGHN đã tổ chức Hội thảo khoa học ngày 10/4/2014 chủ đề “Đổi mới tuyển sinh ĐH”, với mong muốn thu nhận ý kiến của các học giả, các nhà giáo dục, nhà hoạch định chính sách, những nhà giáo tâm huyết. Mục tiêu của hội thảo này là để cùng chia sẻ những kinh nghiệm, hiểu 10 biết, tầm nhìn nhằm tìm ra những giải pháp khả thi trong đổi mới tuyển sinh tại Việt Nam.
Hội nghị cho rằng định đổi mới tuyển sinh là một khâu then chốt trong đổi mới căn bản, toàn diện GD&DT. Đổi mới tuyển sinh ĐH cần phải có sáng tạo. Các chuyên gia từ các đơn vị đào tạo đã đề cập đề án tuyển sinh của đơn vị đồng thời trình bày các tham luận về các chủ đề: tuyển sinh ĐH trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam; chuẩn đầu vào với những cách tiếp cận khác nhau; tuyển sinh ĐH trong tổng thể hệ thống giáo dục quốc dân; nghiên cứu cấu trúc bài thi tuyển sinh ĐH SAT và ACT của Hoa Kỳ và đề xuất cấu trúc bài thi tuyển sinh ĐH cho Việt Nam. Các bài tham luận cho rằng một kỳ thi chung với số lƣợng bài thi hạn chế, bó hẹp trong một số môn học chính của trƣờng phổ thông đại trà, sẽ không đảm bảo đƣợc yêu cầu phân hóa trong đánh giá.
Đó là chƣa kể đến năng lực đa dạng của thí sinh cũng nhƣ sự phát triển không đồng đều về tâm lý, thể chất và cảm xúc của thí sinh dẫn đến kết quả của kỳ thi chung không phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực lực của học sinh. Việc tổ chức một lần thi duy nhất trong năm cũng là rào cản đối với việc dự tuyển của thí sinh và tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Từ những phân tích đó, các ý kiến tại Hội thảo đều thống nhất đổi mới tuyển sinh là cần thiết và là xu hƣớng tất yếu. Nhiều trƣờng ĐH đã xây dựng những phƣơng thức và công cụ đánh giá tuyển sinh mới nhằm từng bƣớc thay thế cho các phƣơng thức và công cụ trƣớc đây.
Các nhà khoa học và quản lí giáo dục đƣa ra các giải pháp chuẩn bị cho tuyển sinh đến 2020. Về phía Bộ GD&ĐT đã trình lên Chính phủ Đề án đổi mới chƣơng trình, sách giáo khoa. Nếu đƣợc thông qua, đề án sẽ triển khai trên diện rộng từ năm 2020. "Song song với việc triển khai đề án đó cần phải có đổi mới thi tuyển sinh và đánh giá cho phù hợp".
Với mục đích tìm phƣơng án tuyển sinh ít có những xung đột về lợi ích, và nhận đƣợc sự đồng thuận tối ƣu của các trƣờng và xã hội. Việc đổi mới tuyển sinh phải đảm bảo quyền tự chủ của các trƣờng, không gây xáo trộn lớn nhƣng phải xây dựng đƣợc phƣơng pháp đánh giá phù hợp với chƣơng trình hiện tại nhƣng là tiền đề cho đổi mới sau này. 11 Mỗi trƣờng có phƣơng án đổi mới riêng, trong quá trình đổi mới có thể tham khảo hƣớng đổi mới từ các đơn vị khác nhƣng vẫn phải chú trọng tính linh hoạt, sáng tạo sao phù hợp với nhu cầu và thực tế của đơn vị mình. Vì vậy, nội dung căn bản của đổi mới giáo dục ĐH là chuyển từ một nền giáo dục tiếp cận nội dung, chú trọng kiến thức cụ thể sang nền giáo dục chú trọng phƣơng pháp, kỹ năng.