Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CỐ VẤN HỌC TẬP CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Năng lực cố vấn học tập đến nay đã được coi là một năng lực cần thiết cho giảng viên các trường đại học, nó gắn liền với hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ là kết tinh trí tuệ của người Mỹ, được hình thành và phát triển để phục vụ cho mục đích giáo dục của chính nền giáo dục nước Mỹ trong hoàn cảnh số lượng sinh viên đại học ngày càng tăng ở những năm cuối thế kỷ 19.
Hệ thống tín chỉ được thiết kế để ghi lại và giải thích cụ thể năng lực học tập của từng sinh viên, từ đó giúp chuyên viên phòng đào tạo của các trường đại học có căn cứ chính xác để tuyển chọn những sinh viên có năng lực phù hợp với chuyên ngành đào tạo của các trường đại học. Nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ Jesica M. Shedd (2003) đã cho rằng đào tạo theo hệ thống tín chỉ xuất phát từ các nguyên nhân như: nhu cầu phải xử lý sự gia tăng số lượng học sinh trung học phổ thông đăng ký vào các trường đại học; nội tại hệ thống giáo dục đại học Mỹ muốn có sự cải cách về giáo dục với chương trình đào tạo mang tính “mở” và “mềm dẻo” để sinh viên có thể lựa chọn những chuyên ngành yêu thích và đáp ứng được yêu cầu ngày càng đa dạng của xã hội; và do yêu cầu từ chính phủ, từ nhà tuyển dụng cần phải có thước đo tường minh, chính xác hơn về năng lực của người học và chất lượng đào tạo của nhà trường. Hoạt động của cố vấn học tập là một mắt xích không thể thiếu và đến nay được coi là một trong những thành tố quan trọng giúp cho sự phát triển toàn diện của sinh viên trong giảng đường đại học, từng bước đáp ứng yêu cầu của 6 xã hội.
Nhà nghiên cứu Crockett đã cho rằng: “Công tác CVHT là một tiến trình trợ giúp sinh viên sáng rõ trong việc lựa chọn các mục tiêu nghề nghiệp, mục tiêu cuộc sống; đồng thời giúp sinh viên phát triển các kế hoạch học tập, nhằm thực hiện các mục tiêu đó” (dẫn theo Martin, 2004, tr. Các nghiên cứu về hoạt động CVHT được tính từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX với các nghiên cứu nổi bật của Erikson (1963), janford (1967), Chickering (1969) (trích theo Daller, 1997), Benjamin Bloom (1956), Jean Piaget (1896-1980),… giúp cho hoạt động của CVHT trở nên dễ dàng, có định hướng và đạt hiệu quả cao hơn. Vấn đề bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho giáo viên nói chung luôn được các nhà khoa học giáo dục quan tâm nghiên cứu. Các tác giả Hannele Niemi và Ritva Jakku- Sihvonen [27] cho rằng việc Phần Lan quyết định nâng chuẩn trình độ giáo viên phổ thông lên trình độ thạc sĩ đã giúp hệ thống GD nước này gặt hái được nhiều thành công (đạt thành tích cao nhất trong nhiều kỳ thi PISA do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD thực hiện).
Mọi giáo viên trên đất nước Phần Lan có nghĩa vụ và quyền hạn không ngừng học tập, phát triển năng lực chuyên môn. Ủy ban Văn hóa và Giáo dục thuộc Liên minh châu Âu khi nghiên cứu về đào tạo giáo viên tiểu học và trung học xác định: việc bồi dưỡng giáo viên là cần thiết, phải được chú trọng và xây dựng kế hoạch lâu dài cho công tác bồi dưỡng giáo viên ở giai đoạn tiếp nối trong công cuộc đổi mới giáo dục [28]. Bang Brandenburg, Cộng hoà Liên bang Đức cũng quy định rõ trong luật nhà trường: giáo viên phải có nghĩa vụ tham gia hoạt động bồi dưỡng, có ý thức cập nhật kiến thức mới một cách thường xuyên và đưa vào các biện pháp nâng cao năng lực chuyên môn [3]. Trung tâm Nghiên cứu và Đổi mới giáo dục thuộc OECD, (1998) đưa ra kết luận: “Các chính sách đổi mới GD sẽ không đem lại hiệu quả gì nếu bản thân người giáo viên không thay đổi”.
Trong đó, OECD đã tổng kết kinh nghiệm của các quốc gia trong hoạt động bồi dưỡng như: đất nước Ireland coi 7 bồi dưỡng giáo viên là nhiệm vụ ưu tiên; Mỹ đưa hoạt động bồi dưỡng giáo viên hướng tới sự chuẩn mực và có kiểm định… [26]. Về quản lý hoạt động bồi dưỡng, theo các nhà nghiên cứu trên thế giới thì: điều cần chú ý đầu tiên là lập kế hoạch bồi dưỡng.Xukhomlinxki [24] cho rằng: muốn tổ chức hoạt động dạy học hay bồi dưỡng giáo viên đạt hiệu quả cao thì ngay trước khi bước vào năm học, nhà trường phải xây dựng được kế hoạch cụ thể, chi tiết, trong đó: có phân công rõ ràng nhiệm vụ của các thành viên (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng); xác định công việc cụ thể, cần thiết của các thành viên tham gia; xác định thời lượng cho từng công việc cụ thể cụ thể trong kế hoạch. Về thời điểm tổ chức hoạt động bồi dưỡng, các nghiên cứu đều cho rằng: Bồi dưỡng giáo viên không những phải tổ chức theo chu kì mà phải thực hiện liên tục, quanh năm tùy thuộc mô hình bồi dưỡng [24]. Về lực lượng tham gia bồi dưỡng, các nghiên cứu cho rằng lực lượng này gồm: Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, các trưởng bộ môn và các giáo viên có kinh nghiệm sẽ là lực lượng nòng cốt tham gia bồi dưỡng, kèm cặp, giúp đỡ đồng nghiệp hay các giáo viên mới vào nghề.
Để xác định hiệu quả hoạt động bồi dưỡng và nhu cầu bồi dưỡng trong giai đoạn tiếp theo, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng cho rằng cần phải có hình thức đánh giá hoạt động bồi dưỡng cụ thể. Hình thức có thể là: viết chuyên đề, biên soạn và thuyết trình về hồ sơ chuyên môn, xây dựng kỹ năng giảng dạy… Theo quy định của bang California (Mỹ) thì với mỗi chương trình bồi dưỡng giáo viên trong 5 ngày, các thành viên tham dự sẽ được đánh giá tối thiểu là 4 lần [6]. Năng lực cố vấn học tập đến nay đã được coi là một năng lực cần thiết cho giảng viên các trường đại học, nó gắn liền với hoạt động đào tạo theo Hệ thống tín chỉ và là một trong các năng lực cần thiết của giảng viên. Do vậy, việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực CVHT cho giảng viên cũng vô cùng cần thiết và phải được quản lý chặt chẽ để đạt được mục đích đề ra.
Ở trong nước Chức danh Cố vấn học tập xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của mô hình đào tạo theo HCTC trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam. Đến nay đã có khá nhiều nhà khoa học tiến hành nghiên cứu, khá nhiều hội thảo phân tích, bàn thảo về vấn đề này cũng như việc bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho CVHT có thể kể đến như: - Bàn về chức danh, nhiệm vụ của CVHT và sự cần thiết phải xây dựng CVHT, tác giả Bùi Mai Sơn có bài: “Cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 234 (2010). - Tác giả Huỳnh Xuân Nhựt (2010) cũng có bài viết chi tiết về việc xây dựng tổ chức CVHT tại trường đại học: “Hướng dẫn xây dựng tư vấn học tập theo học chế tín chỉ”. - Tháng 5/2011, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia Hà Nội đã tổ chức hội thi dành cho các CVHT: “Nghiệp vụ CVHT” mang chủ đề “Đồng hành - Trách nhiệm - sáng tạo” thu hút 61 CVHT tham gia chia ra 14 đội.
Cuộc thi tổ chức theo hình thức sân khấu hóa, thông qua đó các giảng viên CVHT đã giới thiệu sinh động về các ngành học trong trong nhà trường, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về ngành học mình đang theo đuổi và các ngành học có thể học văn bằng 2. Các giảng viên cũng giới thiệu để sinh viên hiểu rõ hơn về vai trò của CVHT, SV có thể đặt câu hỏi cho thầy cô CVHT ngay trong hội thi và cùng tham gia chấm điểm một cách khách quan. - Tác giả Nguyễn Văn Vân (2011) có bài: “Một số nội dung về công tác CVHT theo HCTC”, bài báo đã chỉ ra chức năng, nhiệm vụ của CVHT, tiêu chí lựa chọn CVHT, miễm nhiệm CVHT, trách nhiệm và quyền lợi đối với CVHT… - Tháng 11/2012, Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo: “Nghiệp vụ cố vấn học tập” giúp cán bộ, giảng viên và sinh viên có cái nhìn toàn diện hơn, đúng đắn hơn về vai trò, trách nhiệm của CVHT, qua đó đóng góp ý kiến giúp hoạt động CVHT ngày càng hiệu quả. 9 - Các tác giả Trần Thị Minh Đức, Kiều Anh Tuấn (2012) với bài viết “Cố vấn học tập trong các trường đại học” đã tìm hiểu, phân tích rất chi tiết về các quy định, tiêu chí lựa chọn CVHT, hoạt động của CVHT, những quyền lợi mà CVHT được hỗ trợ, đồng thời cũng chỉ ra một số thuận lợi, khó khăn trong quá trình công tác của CVHT.
- Tháng 11/2013, Viện Nghiên cứu giáo dục thuộc trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo: “Vai trò cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam” với hơn 60 bài viết đầy tâm huyết của các nhà khoa học, các nhà giáo ưu tú và cả các nhà quản lý giáo dục, các giảng viên trẻ của nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước. Hội thảo tập trung phân tích vai trò của CVHT trong đào tạo theo HCTC và biện pháp để nâng cao vai trò của CVHT thông qua phân tích tình hình thực tế tại một số khoa, trường đại học trong cả nước. - Tác giả Nguyễn Thị Tính (2015) có bài: “Phát triển năng lực tư vấn học tập cho giảng viên - CVHT ở trường ĐHSP trong đào tạo theo học chế tín chỉ” đã phân tích rõ vai trò, chức năng nhiệm vụ của CVHT trong đào tạo theo HCTC và sự cần thiết phải nâng cao năng lực tư vấn học tập cho giảng viên là cố vấn học tập. - Tác giả Đinh Thị Mỹ Lệ (2016) trong bài: “Đổi mới công tác cố vấn học tập trong quản lý sinh viên tại Trường Đại học Duy Tân” cũng đề cập đến vấn đề bồi dưỡng đội ngũ cố vấn học tập như một biện pháp đổi mới công tác cố vấn học tập tại Trường Đại học Duy Tân.