CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở các quốc gia trên thế giới đều nhận thức đúng vai trò, vị trí hàng đầu của GD, đều phải đổi mới GD để đáp ứng những đòi hỏi nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước; trong đó, vấn đề chuẩn nghề nghiệp của giáo viên rất được quan tâm. Đây là nội dung mà các trường sư phạm phải tập trung đào tạo, các trường phổ thông tổ chức đánh giá và mỗi giáo viên phải phấn đấu hoàn thiện.
Lịch sử phát triển khoa học quản lý hoạt động dạy học gắn liền với lịch sử phát triển khoa học giáo dục. Các tác giả nước ngoài đã nêu ra những nền tảng lý luận về vai trò giáo dục, định hướng phát triển GD, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phương thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ QLGD, phương pháp lãnh đạo và quản lý. Ngày nay, xu thế giáo dục trên thế giới đã xuất hiện xu hướng “cải cách dựa trên các chuẩn” (reform based on standards). Nhiều nước đã tiến hành xây dựng bộ tiêu chuẩn cho giáo dục như: Chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn nhà trường, chuẩn CBQL GD, chuẩn giáo viên.
Đối với tiêu chuẩn cho giáo viên có chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn chức danh, chuẩn nghề nghiệp (professional standard)… Về chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên, nhiều quốc gia đã tiến đến xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên ở từng ngành học, cấp học, môn học. Tiêu chuẩn chuyên môn cho giáo viên ở Anh (2007) quy định, “thuộc tính chuyên nghiệp, kiến thức, sự hiểu biết và kỹ năng”. Yêu cầu nghề nghiệp của giáo viên, đồng thời làm căn cứ giúp giáo viên tự đánh giá và định hướng cho việc nâng cao năng lực nghề nghiệp trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp. Các tiêu chí, tiêu chuẩn này đều hướng đến người học và đề cấp 3 lĩnh vực: Giảng dạy và học tập, điều kiện dạy và học, trách nhiệm nghề nghiệp [24].
Trong quy định về tiêu chuẩn nghề nghiệp của Anh quy định rất cụ thể về nhiệm vụ của giáo viên, đó là: - Thiết lập những kinh nghiệm học tập linh động và sánh tạo cho các cá nhân và các nhóm; - Đóng góp vào việc phát triển ngôn ngữ, khả năng đọc viết và toán; - Xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính thử thách về mặt trí tuệ; 6 - Xây dựng những kinh nghiệm học tập phù hợp, có mối liên kết với thế giới bên ngoài trường học; - Xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính tổng quát và có sự tham gia, kết hợp công nghệ thông tin và liên lạc để tăng hiệu quả học tập của học sinh; - Đánh giá và báo cáo việc học tập của học sinh; - Hỗ trợ việc phát triển và tham gia xã hội của thanh niên; - Tạo môi trường học tập an toàn và mang tính hỗ trợ; - Xây dựng những mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn; - Đóng góp vào những ngành nghề; tham gia thực hiện những hoạt động của nghề giáo. Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu đối với một giáo viên cần có các phẩm chất [dẫn theo 26]: - Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; - Kĩ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; - Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; - Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp học. Ở Thái Lan, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phổ thông gồm 18 tiêu chuẩn trên 03 lĩnh vực: (i) tiêu chuẩn đối với chất lượng HS; (ii) tiêu chuẩn đối với giảng dạy; (iii) tiêu chuẩn đối với lãnh đạo và quản lí giáo dục. Trong bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phổ thông đề cập đến những tiêu chuẩn mà giáo viên cần phải đạt được: - Tiêu chuẩn 9: giáo viên cần có phẩm chất đạo đức, trình độ/kiến thức và năng lực phù hợp với trách nhiệm; luôn phấn đấu tự phát triển; và hòa nhập với cộng đồng.
Những tiêu chí đánh giá cụ thể bao gồm: (i) Có phẩm chất và đạo đức, và được phân công phù hợp với mã nghề đào tạo theo qui định; (ii) Có mối quan hệ tốt với HS, phụ huynh và cộng đồng; (iii) Có lòng quyết tâm và nhiệt tình giảng dạy và phát triển học sinh; 7 (iv) Luôn đặt yêu cầu đối với kiến thức và phương pháp giảng dạy mới; lắng nghe các ý kiến, luôn sẵn sàng tiếp thu và chấp nhận sự thay đổi; (v) Có bằng Đại học Sư phạm hoặc tương đương; (vi) Giảng dạy môn học liên quan tới chuyên ngành hoặc năng khiếu được đào tạo; (vii) Trường học cần có đủ số lượng giáo viên (đội ngũ giáo viên và phục vụ) - Tiêu chuẩn 10: giáo viên cần có năng lực quản lí hiệu quả hoạt động dạy - học, đặc biệt lấy HS làm trung tâm. Những tiêu chí đánh giá cụ thể bao gồm: (i) Có kiến thức và hiểu rõ những mục tiêu của giáo dục và chương trình giáo dục phổ thông; (ii) Phân tích khả năng HS và hiểu rõ từng cá nhân HS; (iii) Có khả năng quản lí lấy HS làm trung tâm. (iv) Có khả năng sử dụng công nghệ để phát triển năng lực nghề nghiệp bản thân và hoạt động học tập của HS; (v) Đánh giá kết quả dạy và học cùng với điều kiện học tập phục vụ HS và liên quan tới sự phát triển của HS; (vi) Sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh việc giảng dạy nhằm phát huy hết khả năng HS; (vii) Hướng dẫn, nghiên cứu, cải tiến việc học của HS và sử dụng kết quả đó để giúp đỡ HS. Trong nghiên cứu về quản lý giáo viên theo định hướng chuẩn hóa, nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên được các nhà nghiên cứu rất quan tâm.
Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều nghiên cứu về xây dựng chuẩn trong giáo dục nói chung và chuẩn nghề nghiệp giáo viên nói riêng. Ủy ban quốc gia chuẩn nghề dạy học của Hoa Kỳ được thành lập năm 1997 đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng trong quản lý giáo viên theo chuẩn, bao gồm: 1. Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học; 2. Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ với các môn học khác; 3.
Giáo viên phải có trách nhiệm trong giảng dạy, quản lý kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh; 4. Giáo viên phải thường xuyên suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp; 8 5. Giáo viên phải là thành viên tin cạy của cộng đồng học tập, biết cộng tác với đồng nghiệp, hợp tác với cha mẹ học sinh. Các nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên cũng được thực hiện ở nhiều nước khác như Úc, Liên Bang Đức, Trung Quốc,… Các quốc gia này sử dụng chuẩn giáo viên để phát triển các chuẩn đánh giá giáo viên, thực hiện quản lý giáo viên theo chuẩn.
Từ cuối những năm 90 trở lại đây ở các nước Đông nam Á, nhất là ở Singapore, Malaysia cũng đã sớm xây dựng chuẩn giáo viên các cấp và tổ chức đánh giá giáo viên theo chuẩn nhằm xác định cơ sở khách quan cho công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và bố trí sử dụng. Các nghiên cứu trong nước Ở nước ta, việc xây dựng các chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên không chỉ nhằm mục đích đảm bảo chất lượng, hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong giáo dục đào tạo, mà còn trong định hướng phát triển chuyên môn của đội ngũ giáo viên. Giáo viên có vai trò quyết định đối với sự thành bại của việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục do vậy việc nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên là rất cần thiết nhằm giúp họ có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dạy học [7]. Quản lý đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp là một trong những hoạt động trọng tâm mỗi năm học của các Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), Phòng GDĐT cũng như của các nhà trường.
Đây đồng thời cũng là nội dung quản lý quan trọng trong công tác quản lý trường học. Chính vì vậy, vấn đề quản lý đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp luôn được các nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục đề cập trong các công trình nghiên cứu, các bài viết như: Tác giả Trần Kiều và Lê Đức Phúc (2001) trong bài viết “Cơ sở khoa học để xác định chuẩn cho trường mầm non nông thôn trong công tác chỉ đạo” đã đưa ra những vấn đề cơ bản như xác định khái niệm, thống nhất hệ thống chuẩn mực trong chỉ đạo thực hiện trên cơ sở mục tiêu giáo dục, chuẩn nghề nghiệp và “vùng phát triển gần nhất của trẻ mầm non”, mối quan hệ giữa chuẩn và điều kiện giáo dục, quan điểm hành động trong chỉ đạo,v. Các tác giả Phan Sắc Long (2005) [20], Nguyễn Thị Ngọc Quyên (2007) [15] và Trần Ngọc Giao (2007) [24] đã nghiên cứu các vấn đề về mục đích của chuẩn nghề nghiệp, nội dung của chuẩn nghề nghiệp và việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đang hành nghề để đáp ứng yêu cầu chuẩn đưa ra đồng thời đề xuất một số kiến nghị và giải pháp. Năm 2015, trong nghiên cứu tại Tứ Kỳ (Hải Dương), tác giả Đặng Thị Khánh đã chỉ ra một số khó khăn trong quá trình đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá, xếp loại chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/5/2007 bao gồm: Tổ chuyên môn, đồng nghiệp có tâm lý né tránh việc đánh giá đồng 9 nghiệp công khai; Giáo viên chưa có thói quen và nhu cầu tự đánh giá theo chuẩn; Lãnh đạo các trường chưa quan tâm tới việc gắn kết công tác bồi dưỡng thường xuyên với bồi dưỡng nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên [5].
Nghiên cứu về “Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở các trường tiểu học quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Lâm Thị Ngọc Ánh đã chỉ ra rằng đa số hiệu trưởng và giáo viên đã có câu trả lời: “trong quá trình giáo viên tự đánh giá, vẫn còn một số giáo viên đánh giá kiến thức và kĩ năng sư phạm của bản thân cao hơn thực tế.