Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan 1. Trên thế giới Xây dựng, quản lý và phát triển ĐNGV trong giáo dục được các nước trên thế giới đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong các cuộc cách mạng cải cách giáo dục, chấn hưng, phát triển đất nước. Lê Nin rất coi trọng việc xây dựng ĐNGV và yêu cầu: “Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ và tinh thần của GV nhưng điều chủ yếu, chủ yếu và chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ” [40].
Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lí và phát triển ĐNGV trong khu vực và trên thế giới. Có thể kể một số công trình của các tác giả tiêu biểu như Eleonora Vilegas-Reiers (1998); Glatthorn (1995); Ganser (2000); Felding và Schalock (1985); Cochran-Smith và Lytle (2001); Walling và Levis (2000); Cobb (1999); Kettle và Sellars (1996); Kalelestad và Olweus (1998); Youngs (2001); Grosso de Leon (2001); Guzman (1995); Mc. Ginn và Borden (1995); Tattlo (1999); Darling-Hammond (1999); Loucks-Horsely và Matsumoto (1999); Borko và Putnam(1995). Ngoài ra, chúng ta còn gặp những kết quả nghiên cứu về GV phổ thông trong các báo cáo của Uỷ ban quốc gia về giáo dục và tương lai Hoa Kì các năm 1996, 1997.
Tất cả các công trình trên có thể phân chia theo 4 hướng nghiên cứu chính: - Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý, phát triển nghề nghiệp GV; - Nghiên cứu cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho GV. Xu hướng này đang được các quốc gia trong khối APEC triển khai 8 thực hiện đào tạo, bồi dưỡng GV. Theo xu hướng này, các quốc gia ở Châu Á Thái Bình Dương cũng coi đào tạo và bồi dưỡng GV là một trong những khâu then chốt để phát triển kinh tế ở các nước này. Các nước này rất coi trọng nâng cao nghề nghiệp liên tục cho GV; - Nghiên cứu quản lý và phát triển nghề nghiệp cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách giáo dục.
Về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Trong nghiên cứu của mình về đào tạo GV, Michel Develay đã bắt đầu từ lí luận về học đến lí luận về dạy để nghiên cứu về đào tạo GV. Theo ông: “Đào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, định lí, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [35]. Ngoài ra, trong tác ph m này, ông còn đề cập đến nội dung, cách thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV. Báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985 do UNESCO tổ chức, đã đề cập đến vai trò của GV trong thời đại mới, cụ thể là người thiết kế, tổ chức, cổ vũ, canh tân.
Để GV thực hiện tốt các vai trò này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng GV như: Chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học tốt nhất; GV phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là thợ dạy; việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền [17]. Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra các yêu cầu của một GV bao gồm: kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và phạm vi bộ môn mình dạy; kĩ năng sư phạm; có tư duy phản ánh, năng lực tự phê; biết cảm thông và cam kết tôn trọng ph m giá của người khác; có năng lực quản lí. Ở Việt Nam Quản lý đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục là biện pháp mang tính đột phá, là điều kiện cơ bản nhất quyết định đến sự phát triển giáo dục. Trong tác ph m “Việt Nam hướng tới nền Giáo dục hiện đại” của tác giả Nguyễn Đắc Hương, đã viết: “Kinh tế thị trường và xã hội văn minh với môi trường trong sạch phải được hòa quyện trong hệ thống giáo dục nước nhà trên con đường hiện đại hóa” [4], Để thực hiện được điều đó cần phải có một hệ thống chính sách đồng bộ, một trong những chính sách đó là: “Đổi mới chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV và CBQL giáo dục ”, “Chừng nào chúng ta coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng đội ngũ GV thì chúng ta mới có nhiều chuyên gia giỏi để đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước” [5], Vì vậy mà nhiều nước trên thế giới khi tiến hành cải cách giáo dục, phát triển giáo dục thường bắt đầu bằng phát triển đội ngũ GV.
Trong 25 năm đổi mới, nhiều biện pháp nhằm phát triển đội ngũ GV các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Đặc biệt từ khi Đảng và nhà nước có chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thì một số dự án, công trình nghiên cứu khoa học lớn có liên quan đến đội ngũ GV đã được thực hiện: Dự án quốc gia nghiên cứu tổng thể về GD&ĐT và phân tích nguồn nhân lực, mã số VIE/89/022, năm 1991 - 1992 (gọi tắt là Dự án tổng thể về giáo dục). Mục đích của dự án là: + Đánh giá hệ thống giáo dục về hiệu quả trong và hiệu quả ngoài. + Đề xuất chiến lược dài hạn thích nghi với yêu cầu đang thay đổi của xã hội và sự hạn chế về tài chính.
Đề tài khoa học mã số KX-07-14 thuộc chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước (năm 1996) về “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới”. Mục đích của đề tài này là: + Đánh giá thực trạng về tình hình bồi dưỡng và đào tạo lại các loại 10 hình lao động hiện nay. + Đề xuất với nhà nước một số nội dung chính sách và biện pháp nhằm thúc đ y việc bồi dưỡng và đào tạo lại các hình thức lao động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho phù họp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới. Liên quan đến cấp học THCS đã có các nghiên cứu sau: Dự án: “Tăng cường năng lực đào tạo GV” thuộc nội dung tài trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
Mục tiêu của dự án nhằm củng cố năng lực các cơ sở đào tạo và tăng cường mối liên kết giữa các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương tham gia đào tạo GV THCS theo 4 lĩnh vực: + Xây dựng chương trình và viết giáo trình đào tạo GV THCS + Lập kế hoạch chiến lược cho đào tạo GV + Quản lý và tiến hành cải cách hệ thống đào tạo GV + Giám sát, đánh giá nhằm duy trì những nội dung cải cách trong đào tạo GVTHCS. Dự án Đào tạo giáo viên trung học cơ sở, thực hiện từ năm 2000 đến năm 2005. Mục đích của dự án là: + Nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả của hệ thống đào tạo giáo viên trung học cơ sở. + Khắc phục một phần tình trạng phát triển không đều về số lượng và chất lượng trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở giữa các vùng.
+ Nâng cao năng lực tổ chức quản lý của các cơ quan các cấp tham gia vào công tác đào tạo giáo viên trung học cơ sở. Dự án hỗ trợ kỹ thuật xây dựng kế hoạch tổng thể giáo dục trong giai đoạn 2001 - 2010 do ngân hàng thế giới tài trợ. Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT do ủy ban Châu Âu tài trợ. Tùy từng mức độ khác nhau, tất cả các đề tài khoa học, các dự án trên 11 đều đề cập đến vấn đề xây dựng, phát triển và quản lý đội ngũ GV.
Ngoài ra, hàng năm các Sở GD&ĐT, các Phòng GD&ĐT đều có các nghiên cứu khoa học hay các biện pháp để thực hiện phát triển đội ngũ GV. Tuy nhiên, vào thời điểm trước và sau năm 2000, do quy mô dân số, quy mô học sinh trong độ tuổi tăng rất nhanh, dẫn đến tình trạng mất cân đối về cơ cấu đội ngũ GV. Nhiều địa phương phải đối mặt với việc thiếu GV trầm trọng, buộc họ phải giải quyết bằng các biện pháp tình thế như: Đào tạo GV cấp tốc; đào tạo và đào tạo lại GV thêm trình độ chuyên môn 2 để tránh tình trạng thừa và thiếu cục bộ, không đồng bộ về cơ cấu đội ngũ; các trường sư phạm đào tạo một cách ồ ạt;. đã làm cho chất lượng đội ngũ GV bị giảm sút nghiêm trọng.
Nhiều loại hình đào tạo, hình thức bồi dưỡng đã được mở rộng thiếu tính quy hoạch, kế hoạch làm sai lệch cơ cấu đội ngũ GV. Điều này không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan QLGD mà còn là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục từ trung ương đến các địa phương. Thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức; công nghệ thông tin và truyền thông được ứng dụng trên quy mô rộng lớn ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Trong bối cảnh ấy, giáo dục trong thế kỷ XXI đóng vai trò quan trọng trong việc chu n bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước và tạo cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, đó gần như là một đòi hỏi tất yếu và cam kết của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Điều đó đặt ra cho Giáo dục Việt Nam có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa thỏa mãn nhu cầu phát triển của 12 mỗi cá nhân, mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập; Giáo dục phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều kiện chi phí còn hạn h p. Để thực tốt vấn đề đó, một trong những biện pháp trọng tâm cần phải thực hiện là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục.