Chương 1. Định nghĩa tương tác thuốc Tương tác thuốc là sự thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính của thuốc khi dùng đồng thời hai hay nhiều thuốc hoặc có một thuốc khác đã được dùng trước đó [3]. Ví dụ, một bệnh nhân dùng đồng thời một thuốc chống nấm nhóm azol và một dẫn chất statin có nguy cơ bị tiêu cơ vân nghiêm trọng. Bệnh nhân dùng thuốc chống trầm cảm nhóm ức chế monoamin oxidase (IMAO) có thể trải qua cơn tăng huyết áp cấp, nguy hiểm đến tính mạng nếu bệnh nhân này ăn những thức ăn có chứa nhiều tyramin [32].
Thông thường, cụm từ “tương tác thuốc” dùng để chỉ tương tác thuốc – thuốc, có nghĩa là tương tác giữa hai hay nhiều thuốc. Tuy nhiên, “tương tác thuốc” còn có thể có nhiều dạng khác nhau. Ví dụ, tương tác thuốc – thức ăn, tương tác thuốc – dược liệu, tương tác thuốc – tình trạng bệnh lý, tương tác thuốc – xét nghiệm, thuốc – thuốc sử dụng qua đường tiêm [20]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cụm từ “tương tác thuốc” chỉ đề cập đến tương tác thuốc – thuốc.
Tương tác thuốc thường được phân ra làm hai loại là tương tác dược động học (tương tác làm thay đổi quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ của thuốc trong cơ thể) [4] và tương tác dược lực học (tương tác làm thay đổi đáp ứng của bệnh nhân đối với một thuốc mà không ảnh hưởng lên tính chất dược động học của thuốc đó) [34]. Tương tác thuốc thường gây ra những hậu quả có hại đến bệnh nhân nhưng trong vài trường hợp tương tác thuốc có thể đem lại lợi ích trong điều trị. Ví dụ, bác sỹ chủ ý phối hợp một thuốc hạ huyết áp và một thuốc lợi tiểu để đạt hiệu quả tốt hơn trong điều trị, hay phối hợp hai thuốc điều trị đái tháo đường để kiểm soát nồng độ đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 hoặc kết hợp adrenalin và lidocain để kéo dài tác dụng gây tê [20], [32]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Dịch tễ học về tương tác thuốc Tỷ lệ tương tác thuốc tăng theo cấp số nhân với số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng [4]. Trên thực tế, việc bệnh nhân phải dùng phối hợp nhiều thuốc là phổ biến, đặc biệt ở người cao tuổi hay bệnh nhân nội trú. Tại Thụy Điển năm 2002, mỗi bệnh nhân cao tuổi sử dụng trung bình 4,4 thuốc cùng lúc [16]. Một nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Hữu Nghị năm 2004 đã chỉ ra rằng mỗi đơn thuốc nội trú có trung bình 6,1 thuốc và tác giả cũng đưa ra kết luận rằng số thuốc trong đơn càng nhiều thì số tương tác xuất hiện trong đơn càng lớn [6].
Kết luận tương tự cũng được đưa ra bởi một nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Bạch Mai năm 2007 [5], tác giả còn thống kê số tương tác trung bình trong một đơn thuốc của bệnh án nội trú có 9 thuốc là 1,1 tương tác. Tỷ lệ xuất hiện tương tác thuốc đưa ra bởi các nghiên cứu khác nhau thường khác nhau. Điều này phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu (bệnh nhân ngoại trú hay nội trú), loại tương tác thuốc (một tương tác thuốc duy nhất, tất cả tương tác thuốc hay chỉ những tương tác nghiêm trọng), thiết kế nghiên cứu (tiến cứu hay hồi cứu), đặc điểm của bệnh nhân (bệnh nhân cao tuổi hay trẻ tuổi) và phương pháp nhận định tương tác thuốc (phần mềm, sách tra cứu hay ý kiến đánh giá của chuyên gia). Trong một phân tích tiến cứu trên 18.225 bệnh nhân nhập viện do phản ứng có hại của thuốc và 16% trong số đó gây ra bởi tương tác thuốc [30].
Một nghiên cứu tại Anh đã chỉ ra rằng tương tác thuốc là nguyên nhân dẫn đến 51,9% biến cố có hại trong quá trình điều trị của bệnh nhân [12]. Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu tiến hành tại ba khoa Tim mạch, Tiêu hóa, Tiết niệu – bệnh viện Hữu Nghị năm 2004, tỷ lệ bệnh án nội trú có xuất hiện tương tác là 50% [6]. Trong một nghiên cứu khác, khi rà soát 1502 đơn thuốc ngoại trú, tỉ lệ đơn thuốc có ít nhất một tương tác là 17,8%, trong đó, 2,9% đơn thuốc có tương tác nghiêm trọng khi kiểm tra tương tác bằng phần mềm Micromedex 2.0 DRUG-REAX® System [7]. Trong khi đó, một phân tích hồi cứu xác định tương tác thuốc nghiêm trọng dựa vào phần mềm quản lý sử dụng thuốc và đánh giá của dược sỹ lâm sàng, trên đối tượng bệnh nhân ngoại trú tại Mỹ đã chỉ ra rằng tỷ lệ này là vô cùng thấp (nhỏ hơn 1%) [28].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Một nghiên cứu khác thực hiện trên đối tượng là bệnh nhân cao tuổi, ngoại trú thì tỷ lệ xuất hiện tương tác thuốc dựa trên danh sách 25 tương tác nghiêm trọng là 2,15% [25]. Không một nghiên cứu nào có thể đưa ra con số chính xác về tỷ lệ tương tác thuốc xuất hiện trong thực hành lâm sàng. Cho dù một số nghiên cứu có đưa ra những con số khá thấp, số lượng bệnh nhân có nguy cơ chịu hậu quả (thậm chí là nghiêm trọng) do tương tác thuốc vẫn là không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi thuốc được kê đơn và sử dụng ngày càng nhiều. Hậu quả của tương tác thuốc Tương tác thuốc có thể gây nên thiệt hại về nhiều mặt.
Xét về hậu quả trong điều trị, tương tác thuốc có thể làm giảm hiệu quả điều trị, không cải thiện được bệnh cảnh lâm sàng hoặc làm xuất hiện những phản ứng có hại, biểu hiện độc tính trên bệnh nhân. Nghiêm trọng hơn tương tác thuốc có thể gây ra các tai biến nguy hiểm và thậm chí là dẫn đến tử vong [1]. Bác sỹ điều trị phải đối mặt với trách nhiệm y khoa nếu hiệu quả điều trị của bệnh nhân thấp do nguyên nhân xuất hiện trong đơn thuốc một tương tác đã được chứng minh. Xét về hậu quả kinh tế, một bệnh nhân gặp tương tác thuốc nghiêm trọng phải nằm viện dài ngày hơn và tốn nhiều chi phí điều trị hơn.
Nền công nghiệp dược phẩm bị thiệt hại về thời gian và nguồn tài chính nếu một thuốc bị rút số đăng ký khỏi thị trường, hay như vướng phải những tranh chấp kiện tụng. Đáng chú ý, năm trong mười thuốc bị thu hồi khỏi thị trường Mỹ từ 1998 đến 2001 là do những thuốc này có nguy cơ gây ra những tương tác thuốc - thuốc nghiêm trọng [20]. Yếu tố nguy cơ gây tương tác thuốc Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng [4], [20] Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng càng tăng thì bệnh nhân càng có nguy cơ cao gặp phải tương tác thuốc bất lợi. Số lượng bác sỹ kê đơn cho bệnh nhân [20], [34] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nếu bệnh nhân được điều trị bởi nhiều bác sỹ cùng lúc, mỗi bác sỹ có thể không nắm được đầy đủ thông tin về những thuốc bệnh nhân đã được kê đơn và đang sử dụng.
Điều này có thể dẫn đến những tương tác thuốc nghiêm trọng không được kiểm soát. Yếu tố di truyền [17], [20], [34] Yếu tố di truyền quyết định tốc độ chuyển hóa enzym. Những bệnh nhân mang gen “chuyển hóa chậm” có tỷ lệ gặp phải tương tác thuốc thấp hơn so với những người mang gen “chuyển hóa nhanh”. Tình trạng bệnh lý [20], [34] Một số tình trạng bệnh lý của bệnh nhân có thể làm cho bệnh nhân có nguy cơ cao gặp tương tác thuốc: bệnh tim mạch (loạn nhịp, suy tim sung huyết), đái tháo đường, động kinh, bệnh lý tiêu hóa (loét đường tiêu hóa, chứng khó tiêu), bệnh về gan, tăng lipid máu, suy chức năng tuyến giáp, bệnh nhiễm HIV, bệnh nấm, bệnh tâm thần, suy giảm chức năng thận, bệnh hô hấp (hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính).
Nhiều bệnh đòi hỏi bệnh nhân buộc phải dùng nhiều thuốc để đạt được hiệu quả điều trị mong muốn. Ví dụ, suy tim sung huyết, hội chứng AIDS, bệnh lao, động kinh hay bệnh tâm thần. Trong khi đó, nhiều thuốc dùng trong điều trị lao hay cho bệnh nhân mắc hội chứng AIDS và thuốc chống động kinh lại có khả năng cảm ứng hay ức chế enzym chuyển hóa, dễ gây tương tác với các thuốc khác. Một số tình trạng bệnh lý khác đòi hỏi phải được điều trị bằng những thuốc có khoảng điều trị hẹp.
Ví dụ, lithium dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, thay đổi nhỏ nồng độ lithium trong máu do tương tác thuốc cũng có thể làm xuất hiện độc tính trên bệnh nhân. Đối tượng bệnh nhân đặc biệt [17], [20], [34] Người già có tỷ lệ gặp tương tác thuốc cao hơn, do bệnh nhân cao tuổi thường mắc bệnh mạn tính hoặc mắc kèm nhiều bệnh, dẫn đến phải sử dụng nhiều thuốc cùng lúc và ở nhóm đối tượng này, có nhiều thay đổi sinh lý do quá trình lão hóa (như chức năng gan thận suy giảm). Phụ nữ có nguy cơ bị tương tác thuốc cao hơn so với nam giới. Bệnh nhân béo phì hay suy dinh dưỡng, thường có sự thay đổi mức độ chuyển hóa enzym vì thế đối tượng này nhạy cảm hơn và dễ bị ảnh hưởng bởi tương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những đối tượng khác có nguy cơ cao là những bệnh nhân bệnh nặng, bệnh nhân mắc bệnh tự miễn hay những đã trải qua phẫu thuật ghép cơ quan. Thuốc có khoảng điều trị hẹp [20], [34] Những thuốc có thể kể đến trong danh sách này là: kháng sinh aminoglycosid, cyclosporin, digoxin, những thuốc điều trị HIV, thuốc chống đông, thuốc điều trị loạn nhịp tim (quinidin, lidocain, procainamid), những thuốc điều trị động kinh (carbamazepin, phenytoin, acid valproic) và thuốc điều trị đái tháo đường (insulin, dẫn chất sulfonylure đường uống). Liều dùng và tính chất dược động học của thuốc [20] Nhiều tương tác thuốc xảy ra phụ thuộc nồng độ của thuốc trong máu, do đó, liều dùng và tính chất dược động học của thuốc quyết định đến việc xảy ra tương tác và hậu quả của tương tác đó. Ý nghĩa lâm sàng của tương tác thuốc Tương tác thuốc có thể để lại hậu quả trên bệnh nhân ở nhiều mức độ khác nhau, từ mức nhẹ không cần can thiệp đến mức nghiêm trọng như bệnh mắc kèm hay tử vong.
Điều đó có nghĩa rằng không phải tương tác nào cũng nghiêm trọng và có ý nghĩa lâm sàng. Tương tác thuốc có ý nghĩa trên lâm sàng là những tương tác thuốc làm thay đổi tác dụng điều trị hay độc tính của thuốc, cần thiết phải có những can thiệp y khoa hoặc hiệu chỉnh liều [35]. Do đó, theo kết quả nghiên cứu in vivo hay in vitro, một tương tác có thể xảy ra nhưng chưa chắc tương tác đó có ý nghĩa trên lâm sàng.