Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về dạy học dự án chủ đề“Bảo vệ môi trường” 1. Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Trên thế giới, khái niệm dự án (project) từ lâu đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các DA phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như là một PPDH. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng năm 1590 đến năm 1765, khái niệm dự án đã được sử dụng đầu tiên trong các trường đào tạo nghề kiến trúc sư ở Ý qua cuộc thi mang tính thách thức và giải quyết một vấn đề tồn tại trong thực tiễn.
Tại thời điểm này, DHDA chính là các bài tập và thông qua các bài tập thiết kế về các nhà thờ, tượng đài … sẽ hình thành cho người học có tri thức về nghệ thuật và khoa học. Từ năm 1765 đến năm 1880, DHDA được áp dụng ở các trường đào tạo nghề mộc, cơ khí, công nghệ máy tính ở Pháp, Mỹ… Sau mỗi khóa học HS phải hoàn thành một DAHT, phải có sản phẩm cụ thể do mình tự làm ra, phải sử dụng được và mang lại giá trị kinh tế nhất định. Từ năm 1880 đến năm 1915, DHDA đã được áp dụng ở cấp THPT trong môn KHTN. Tại thời điểm này HS phải tiến hành các dự án trồng đậu, trồng cà rốt ở trang trại của gia đình rồi tiến hành ghi chép lại các hoạt động học tập thành một hồ sơ học tập để làm tài liệu nghiên cứu, do đó tại thời điểm này thì ý tưởng xây dựng và thực hiện một DAHT đã được hình thành.
Đầu thế kỉ XX, trên cơ sở các học thuyết tâm lí giáo dục của J. Vugotxki, các nhà sư phạm Mỹ John Deway, W. Kilpatrich đã xây dựng các lí luận cho phương pháp DHDA và DHDA đã được áp dụng cho HS ở mọi lứa tuổi với hầu hết các môn học, trong những môi trường học tập đa dạng. Các tác giả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn này cho rằng mọi DA đều phải có xu hướng của cuộc sống và phải mang lại sự chuyển biến đến cuộc sống của HS.
Năm 1916, John Deway đã đưa ra quan điểm về DHDA trong cuốn “Dân chủ và giáo dục” [21], ông đã nhấn mạnh rằng thực tiễn quan trọng hơn lí thuyết và HS là trung tâm của mô hình DHDA. Với những quan điểm này ông đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên về áp dụng DHDA vào giảng dạy ở trường Đại học bang Chicago nước Mỹ và ông đã rút ra nhận định chắc chắn rằng “Tất cả HS phải học tập phải tích cực và làm ra một cái gì đó, tất cả HS phải học cách suy nghĩ và giải quyết các vấn đề, tất cả HS phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội”. Bước sang thế kỉ XXI, với rất nhiều ưu điểm của DHDA thì phương pháp DHDA vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ và mang tính toàn cầu nhằm đào tạo ra những thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, hội tụ đầy đủ NL và phẩm chất của con người thế kỉ XXI. Ngày nay, DHDA ngày càng được phát triển hơn với một định hướng quan trọng là sử dụng nó như một phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển NL học tập của học sinh, đặc biệt là NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào việc BVMT.
Như vậy, DHDA đã ra đời từ rất sớm (thế kỉ XIX) và ban đầu chỉ là tập hợp các hoạt động để định hướng người học rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp được tổ chức bởi GV giảng dạy, sau đó hoạt động nghiên cứu này dần dần được hình thành và hoàn thiện về cơ sơ lí luận. Nhờ có cơ sở lí luận mà DHDA đã được phổ biến rộng rãi, nhanh chóng và được chứng minh là một PPDH tích cực như hiện nay. Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài Những năm cuối của thế kỉ XX, phương pháp DHDA bắt đầu được nghiên cứu ở Việt Nam, bước đầu đã được một số nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm. Lí thuyết về DHDA đã hình thành và đang phát triển mạnh ở Tây Âu nên khi được phổ biến ở Việt Nam thì xuất hiện hai quá trình song song với nhau đó là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn áp dụng trực tiếp lí thuyết DHDA trong trường học và nghiên cứu tính khả thi của PPDH này trong từng bối cảnh cụ thể.
Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả có các bài báo, công trình nghiên cứu liên quan đến phương pháp DHDA nhưng tập trung chủ yếu về cơ sở lí luận của DHDA. Hai tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo và Nguyễn Văn Cường trong bài viết “Dạy học theo dự án - một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” [6, tr. 17] đã tiếp cận phương pháp DHDA từ góc độ lí luận và đã nêu được vai trò của phương pháp DHDA [6, tr. 9] nếu áp dụng vào thực tiễn dạy học sẽ thực hiện được mục tiêu “kép”: vừa nâng cao kết quả học tập kiến thức môn học, vừa phát triển những NL cần thiết cho con người như NL hợp tác, NL làm việc nhóm, NL sáng tạo, NL nghiên cứu… Trong bài viết “Dạy học project hay dạy học theo dự án”, tác giả Nguyễn Văn Cường đã trình bày lịch sử hình thành và phát triển của DHDA cũng như phân tích cơ sở triết học và cho rằng “Dạy học project hay DHDA là một hình thức tổ chức dạy học dưới sự điều khiển và giúp đỡ của GV thì HS sẽ tự lực giải quyết một nhiệm vụ mang tính phức hợp không chỉ về mặt lí thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo nên các sản phẩm của DAHT có thể giới thiệu và công bố được” [5].
Tác giả Nguyễn Văn Cường và cộng sự [7] đã phân loại DAHT theo các phương diện khác nhau để cho người học xác định rõ vai trò của mình trong quá trình học và lượng hóa được khả năng của bản thân. Ngoài ra tác giả còn nêu ra các đặc điểm của DHDA để khái quát hóa hoạt động học tập chủ động của HS, hoạt động định hướng hỗ trợ của GV trong suốt quá trình triển khai thực hiện các DAHT. Dự án Việt Bỉ “Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” đã giới thiệu rất chi tiết về DHDA, bao gồm quy trình các bước thực hiện và tiêu chí đánh giá [8, tr. Trên tạp chí Giáo dục số 157 (kì 1-3/2007), PGS.
Đỗ Hương Trà có bài viết “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” [15] đã đưa ra cơ sở tiếp cận DA và nêu lên tiến trình chi tiết thực hiện DHDA. Phương pháp DHDA được nghiên cứu và triển khai ở hầu hết các cấp học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn tại Việt Nam, từ khối giáo dục chuyên nghiệp cho đến khối giáo dục phổ thông, tập trung chủ yếu tại thời điểm sau năm 2004. Ban đầu, DHDA chủ yếu do một số giáo viên nghiên cứu đề tài rồi dạy thử nghiệm trong một số chủ đề hẹp. Tiếp đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với một số tổ chức quốc tế để triển khai, đào tạo giáo viên nhằm mở rộng, phát triển phương pháp dạy học này.
Các nghiên cứu tập trung vào hai hướng chủ yếu là nghiên cứu tính khả thi và xây dựng các dự án học tập cụ thể. Đã có rất nhiều luận văn, luận án giáo dục học của các tác giả nghiên cứu về DHDA liên quan đến các môn học như Toán, Vật lý, Lịch sử. Môn Hóa học có tác giả Phạm Hồng Bắc [2] trong luận án tiến sĩ “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa phi kim chương trình hóa học Trung học Phổ thông” đã đề cập đến DHDA nhằm hình thành cho HS NL giải quyết vấn đề, NL hợp tác nhóm, khuyến khích HS phát triển các kĩ năng sống hợp tác, biết tìm kiếm và xử lí thông tin, từ đó chiếm lĩnh tri thức, góp phần đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Môn Vật lí có tác giả Lê Khoa [9] trong luận án tiến sĩ “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho học sinh” đã nghiên cứu sử dụng phương pháp DHDA nhằm nâng cao NL vận dụng kiến thức, NL giải quyết vấn đề, góp phần nâng cao giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh.
Đặc biệt DHDA áp dụng trong giảng dạy bộ môn Sinh học cũng đã được nhiều tác giả rất quan tâm, có thể kể đến tác giả Hà Thị Thúy [12] trong luận án tiến sĩ “Tổ chức dạy học theo dự án Sinh học 10 trung học phổ thông góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh” đã xác định được các nội dung kiến thức thuận lợi để xây dựng các DAHT và tổ chức các hoạt động dạy học theo quy trình DHDA đã xây dựng nhằm hình thành và nâng cao NL tự học ở người học. Qua tìm hiểu và phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả trên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn và một số công trình khác đối với bộ môn Sinh học, nhìn chung hầu hết các nghiên cứu của các tác giả đều tập trung chủ yếu vào việc vận dụng quan điểm của DHDA nhằm thiết kế một số DAHT trong phạm vi một môn học rồi triển khai,sau đó đánh giá sản phẩm DAHT để thấy được hiệu quả khi áp dụng phương pháp DHDA vào giảng dạy qua đó khẳng định được vai trò của phương pháp DHDA trong việc chủ động chiếm lĩnh tri thức, gắn lí thuyết trường học với kiến thức thực tiễn, hình thành và phát triển NL cho người học. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đều chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong chương trình môn Sinh học hiện hành và nếu có nghiên cứu về nội dung liên quan đến BVMT thì cũng chỉ đạt được một hướng tiếp cận duy nhất đó là tiếp cận “Giáo dục về môi trường”, chưa có một tác giả nào nghiên cứu nội dung liên quan đến lĩnh vực Sinh học trong môn KHTN cấp THCS ở chương trình mới đặc biệt là nội dung BVMT.