Luận văn thạc sĩ đánh giá tác dụng của phương pháp cận tam châm trong hỗ trợ điều trị trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 18 đến 72 tháng tuổi

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá tác dụng của phương pháp cận tam châm trong hỗ trợ điều trị trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 18, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2022

106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phương Pháp Cận Tam Châm Trong Điều Trị Rối Loạn Phổ Tự Kỷ

Phương pháp Cận Tam Châm là một trong những phương pháp điều trị mới trong y học cổ truyền, được áp dụng để hỗ trợ điều trị rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) ở trẻ em. Phương pháp này kết hợp giữa châm cứu và các huyệt vị đặc biệt nhằm cải thiện tình trạng của trẻ. Nghiên cứu cho thấy, phương pháp này có thể giúp trẻ cải thiện khả năng giao tiếp và tương tác xã hội, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.1. Khái Niệm Về Phương Pháp Cận Tam Châm

Phương pháp Cận Tam Châm được phát triển từ những năm 1980, dựa trên việc tổ hợp các huyệt vị như Tứ Thần Thông, Thái Dương, và Não Không. Mục tiêu chính của phương pháp này là hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến tâm thần và thần kinh, đặc biệt là ở trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ.

1.2. Lợi Ích Của Phương Pháp Cận Tam Châm

Nghiên cứu cho thấy, phương pháp này không chỉ giúp cải thiện triệu chứng của trẻ mà còn hỗ trợ trong việc phát triển ngôn ngữ và khả năng giao tiếp. Việc áp dụng Cận Tam Châm đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong điều trị trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ.

II. Vấn Đề Trong Điều Trị Rối Loạn Phổ Tự Kỷ Ở Trẻ Em

Điều trị rối loạn phổ tự kỷ gặp nhiều thách thức, bao gồm việc thiếu hiểu biết về bệnh, khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị. Nhiều phương pháp điều trị hiện có chưa đạt hiệu quả cao, dẫn đến nhu cầu tìm kiếm các phương pháp mới như Cận Tam Châm.

2.1. Những Thách Thức Trong Chẩn Đoán

Chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ thường gặp khó khăn do triệu chứng không rõ ràng và có thể thay đổi theo thời gian. Điều này dẫn đến việc nhiều trẻ không được chẩn đoán kịp thời, ảnh hưởng đến quá trình điều trị.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Can Thiệp

Việc can thiệp sớm là rất quan trọng, nhưng nhiều gia đình gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế. Điều này làm giảm khả năng điều trị hiệu quả cho trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ.

III. Phương Pháp Cận Tam Châm Giải Pháp Hiệu Quả Cho Trẻ Em Tự Kỷ

Phương pháp Cận Tam Châm đã được chứng minh là một giải pháp hiệu quả trong việc hỗ trợ điều trị rối loạn phổ tự kỷ. Nghiên cứu cho thấy, trẻ em được điều trị bằng phương pháp này có sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng và khả năng giao tiếp.

3.1. Cách Thức Thực Hiện Phương Pháp Cận Tam Châm

Phương pháp này bao gồm việc châm cứu vào các huyệt vị cụ thể, kết hợp với các kỹ thuật khác như điện châm. Điều này giúp kích thích các điểm huyệt, từ đó cải thiện tình trạng của trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ.

3.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Cận Tam Châm

Nghiên cứu cho thấy, sau khi áp dụng Cận Tam Châm, nhiều trẻ em đã có sự cải thiện đáng kể về khả năng giao tiếp và tương tác xã hội. Điều này cho thấy phương pháp này có tiềm năng lớn trong điều trị rối loạn phổ tự kỷ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phương Pháp Cận Tam Châm Trong Điều Trị

Phương pháp Cận Tam Châm đã được áp dụng tại nhiều cơ sở y tế và cho thấy hiệu quả tích cực trong việc điều trị rối loạn phổ tự kỷ. Các bác sĩ đã ghi nhận sự cải thiện rõ rệt ở trẻ em sau khi điều trị.

4.1. Kinh Nghiệm Từ Các Bệnh Viện

Nhiều bệnh viện đã áp dụng phương pháp Cận Tam Châm và ghi nhận sự cải thiện về triệu chứng ở trẻ em. Các bác sĩ cho biết, phương pháp này giúp trẻ hòa nhập tốt hơn với xã hội.

4.2. Phản Hồi Từ Gia Đình

Gia đình của trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ đã phản hồi tích cực về phương pháp Cận Tam Châm. Họ cho biết, trẻ trở nên vui vẻ và hòa đồng hơn sau khi điều trị.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Phương Pháp Cận Tam Châm

Phương pháp Cận Tam Châm có tiềm năng lớn trong việc điều trị rối loạn phổ tự kỷ. Nghiên cứu và ứng dụng phương pháp này cần được tiếp tục để nâng cao hiệu quả điều trị cho trẻ em.

5.1. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp Cận Tam Châm trong điều trị rối loạn phổ tự kỷ. Điều này sẽ giúp xác định rõ hơn vai trò của phương pháp này trong y học.

5.2. Tích Hợp Phương Pháp Điều Trị

Việc tích hợp Cận Tam Châm với các phương pháp điều trị khác có thể mang lại hiệu quả cao hơn trong việc hỗ trợ trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ. Cần nghiên cứu thêm về sự kết hợp này.

27/06/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá tác dụng của phương pháp cận tam châm trong hỗ trợ điều trị trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 18 đến 72 tháng tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về hội chứng rối loạn phổ tự kỷ trẻ em 1. Nguồn gốc Thuật ngữ “Tự kỷ” Autism có nguồn gốc từ Hy Lạp “Autos” nghĩa là “Tự Thân”. Con người tự thu rút vào thế giới riêng của mình, tự cách ly mình với thế giới bên ngoài.

Vì vậy, còn được gọi là Tự bế: tự mình đóng cửa với bên ngoài. Bác sĩ tâm thần Eugen Bleuler là người đầu tiên sử dụng từ này để mô tả triệu chứng rút lui xã hội ở những bệnh nhân có xáo trộn nặng nề mà ông quan sát ở vào khoảng đầu của thế kỷ 20, những bệnh nhân này có thể là bệnh nhân tâm thần phân liệt hoặc trầm cảm [5]. Bác sĩ tâm thần nhi khoa Leo Kanner ở Baltimore (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tình trạng RLPTK trên 11 trẻ em đặc biệt thông minh nhưng lại thể hiện “Khát vọng sống một mình mạnh mẽ” và “ám ảnh về sự giống nhau dai dẳng” [1][6] vào năm 1938 và chính thức báo cáo vào năm 1943, đồng thời đặt tên cho chúng là “Tự kỷ tuổi ấu thơ” ông đã sử dụng thuật ngữ để mô tả một nhóm bệnh nhân cùng có 3 đặc tính quan trọng: Một mình, mong muốn sự giống nhau, có các vấn đề về ngôn ngữ: chậm phát triển ngôn ngữ, nhại lời, hiểu theo nghĩa đen…[6] 1. Dịch tễ học - Thế giới: Theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa kỳ (CDC) có khoảng 1% dân số thế giới có RLPTK (2014).

Tính đến tháng 4/2018, Tỉ lệ mắc chung là 16,8/1000 trẻ ở độ tuổi đến trường nghĩa là 59 trẻ sinh ra lại có 1 trẻ mắc chứng RLPTK [1]. Theo tổng kết ngày 27/3/2020 ti lệ này là 1/57 trẻ em ở Hoa Kỳ [5][7] Trong đó tỉ lệ mắc ở trẻ Nam là 1/37 và Nữ là 1/151 [1]. Báo cáo năm 2021 tỉ lệ này là 1/44; trẻ nam là 1/27 và nữ là 1/116. Theo thống kê không chính thức của WHO thì tỉ lệ trẻ sơ sinh bị tử kỷ là 4-5/10.000 so với dân số toàn thế giới không phân biệt quốc gia và chủng tộc.

Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng, sự kỳ thị, thiếu khả năng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do không có Quốc tịch hoặc thu nhập thấp, ngôn ngữ chính không phải tiếng Anh là rào cản trong việc xác định trẻ mắc RLPTK, đặc biệt là trẻ em gốc Tây Ban Nha [7] Tỉ lệ hiện nhiễm gần giống nhau đối với trẻ em da trắng:da đen:Châu Á/Thái Bình Dương:trẻ em gốc Tây Ban Nha lần lượt là 18,5:18,3:17,9:15,4. Trong đó 33% có khuyết tật về trí tuệ (IQ ≤ 70) (trẻ gái 39% cao hơn trẻ trai 32%) 25% ở mức giới hạn (IQ 71–85) và 44% có điểm IQ ở mức trung bình đến trên trung bình (tức là, IQ> 85 [5] - Việt Nam: Tỉ lệ mắc RLPTK ở trẻ em 18-30 tháng tuổi là 7,58‰ (Tỉ lệ này giao động giữa các tỉnh/thành từ 6,8-8,4‰); tỉ lệ mắc Nam:Nữ 2,7:1 nhóm tuổi 18- 30 tháng; tỉ lệ trẻ RLPTK mắc ở Thành thị:Nông thôn là 2. Một số nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỷ trên thế giới và Việt Nam 1. Nghiên cứu rối loạn phổ tự kỷ trên thế giới Trong báo cáo mới nhất được xuất bản trong trên tạp chí Khoa học thần kinh tự nhiên (2020) của dự án Autism Speaks MSSNG - một chương trình nghiên cứu về giải trình tự hệ gen liên quan đến RLPTK lớn nhất thế giới đã xác định thêm 18 biến thể gen làm tăng nguy cơ RLPTK.

Nó bao gồm những phân tích về 5206 hệ gen ở các gia đình có người bị RLPTK, trở thành một bài nghiên cứu gen RLPTK lớn nhất cho đến nay. [9] Bên cạnh nghiên cứu của các nước phương Tây, Trung Quốc cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến trẻ RLPTK đặc biệt là sử dụng các phương pháp YHCT như xoa bóp, châm cứu hay cấy chỉ để điều trị và đánh giá trẻ RLPTK. Năm 2010 Quách Hiểu Lâm đã nghiên cứu “Đánh giá thực trạng điều trị bệnh RLPTK trong y học cổ truyền Trung Quốc” Tác giả đã bàn về góc nhìn của YHCT về RLPTK thông qua các triệu chứng lâm sàng. [10] Hai năm sau (2012), Quách Kỳ Trúc và Trương Hồng Lâm đã nghiên cứu “Tìm hiểu về thực trạng điều trị bệnh Rối loạn phổ tự kỷ trong y học cổ truyền Trung Quốc”.

Tác giả đã trình bày bệnh nguyên, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, biện chứng luận trị của chứng RLPTK cũng như phương pháp điều trị RLPTK [11] 5 Năm 2014, Trần Phong Tiến, Đặng Khả Bình Cầu và Trần Hoa Minh có nghiên cứu lâm sàng từ tháng 8/2013 đến tháng 9/2014 về can thiệp giáo dục sớm đối với trẻ [12] Với mục tiêu là đánh giá hiệu quả của việc can thiệp sớm cho trẻ RLPTK thông qua quan sát ngẫu nhiên 60 trẻ được chia làm 2 nhóm (30 trẻ NNC can thiệp sớm kèm điều trị lâm sàng- 30 trẻ NĐC điều trị bằng phương pháp lâm sàng thông thường). Kết quả cho thấy can thiệp sớm kèm điều trị lâm sàng giúp 93,33% số trẻ nghiên cứu ổn định cảm xúc và hòa nhập xã hội, cao hơn so với nhóm chỉ điều trị bằng phương pháp lâm sàng thông thường (73. Năm 2015, Ngô Thịnh và cộng sự đã “Đánh giá về tác dụng của Cận Tam Châm” trên 80 trẻ em mắc chứng RLPTK từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 11 năm 2014. Các em được chia ngẫu nhiên thành nhóm đối chứng và nhóm nghiên cứu, mỗi nhóm có 40 trẻ.

Nhóm đối chứng được điều trị giáo dục can thiệp toàn diện và châm cứu thông thường, nhóm nghiên cứu được điều trị bằng "Liệu pháp Cận tam châm" kết hợp giáo dục can thiệp toàn diện. Cả hai nhóm trẻ đều được điều trị ngày 1 lần, sáu lần một tuần và nghỉ ngơi mỗi tuần. Sau 120 lần điều trị được đánh giá hiệu quả điều trị. Kết quả điểm của thang đo phát triển chức năng CARS của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng đều tăng (p<0,05); so với nhóm đối chứng, nhóm nghiên cứu tốt hơn về tri giác, khả năng nói và hiệu quả chung.

Sự cải thiện ở các khía cạnh khác có ý nghĩa hơn (p<0,05). Các tác giả đưa ra kết luận rằng Cận Tam Châm có hiệu quả trong điều trị trẻ RLPTK. [13] Năm 2017, Trương Lộ Nhân đã tiến hành nghiên cứu về phương pháp châm cứu kết hợp day ấn huyệt tai trong điều trị trẻ RLPTK. Kết quả thu được cho thấy kết hợp giữa châm cứu và day ấn huyệt tai làm giảm đáng kể điểm đánh giá CARS của trẻ RLPTK so với phương pháp điều trị châm cứu thông thường [14] 1.

Tình hình nghiên cứu rối loạn phổ tự kỷ ở Việt Nam Năm 2014 Nghiên cứu của Phạm Trung Kiên, Lê Thị Kim Dung và cộng sự về tỉ lệ mắc và kết quả điều trị RLPTK ở trẻ em tại tỉnh Thái Nguyên trên 7316 trẻ từ tháng 4/2012 đến tháng 4/2013, kết quả nghiên cứu cho thấy có 33 trẻ RLPTK, chiếm 0. Tỉ lệ Nam: Nữ là 3,7:1. Tỉ lệ RLPTK ở trẻ 18- 36 tháng là 0.33%; trẻ 37-60 tháng là 0. Tỉ lệ RLPTK giảm dần từ trung tâm thành phố 0,66% xuống 6 các huyện 0,23%.

Đặc điểm lâm sàng 100% trẻ RLPTK có khiếm khuyết về quan hệ xã hội, giao tiếp, sử dụng hành vi không lời; 93,9% rối loạn hành vi [15] Từ thành quả của gói kỹ thuật điều trị RLPTK năm 2012 và 2014 tại khoa Tự Kỷ - Bệnh viện Châm cứu Trung ương, năm 2017 Ngô Thị Vân Lanh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đề tài cấp cơ sở về hiệu quả của gói kỹ thuật áp dụng: Điện châm – thủy châm – xoa bóp bấm huyệt – cấy chỉ - Giáo duc chuyên biệt vào điều trị trẻ RLPTK [3. Kết quả nghiên cứu cho thấy gói kỹ thuật này đã kế thừa phát huy tính ưu việt của nền YHCT, vừa kết hợp được tính hiện đại của YHHĐ, rút ngắn thời gian điều trị, tiết kiệm chi phí điều trị cho gia đình các bệnh nhi mắc RLPTK. Năm 2019, trong một hội nghị quốc tế tổ chức tại Nhật Bản, công bố của các nhà khoa học ở Trường Đại học Y Hà Nội về những nghiên cứu mới trên ruồi giấm biến đổi gen đã chứng minh được bệnh RLPTK liên quan đến gen. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi ruồi giấm mắc bệnh RLPTK cũng giống như người, hạn chế giao tiếp với đồng loại.

Sử dụng máy móc để đếm tần số một con ruồi giấm bình thường giao tiếp với các con khác, các nhà khoa học phát hiện khi bị đột biến gen RLPTK,tần số giao tiếp của ruồi giấm giảm đi rất nhiều. [16] Năm 2020 Báo cáo nghiệm thu Nhiệm vụ cấp Quốc gia về “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, phương pháp chẩn đoán và can thiệp sớm RLPTK ở trẻ em tại cộng đồng” do Trường đại học Y tế công cộng, Bộ Y tế chủ nhiệm chủ trì được Bùi Thị Thu Hà và cộng sự thực hiện từ tháng 10/2016 đến tháng 9/2019. Kết quả cho thấy: Đặc điểm dịch tễ học Tỉ lệ mắc RLPTK ở trẻ em 18-30 tháng là 7,58‰ (Tỉ lệ này giao động giữa các tỉnh/thành từ 6,8-8,4‰); tỉ lệ mắc Nam:Nữ (nhóm tuổi 18- 30 tháng) là 2,7:1; tỉ lệ mắc ở Thành thị:Nông thôn =2,4:1 [17]. Quan niệm của y học hiện đại về hội chứng rối loạn phổ tự kỷ 1.

Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một loại khuyết tật phát triển suốt đời được phát hiện từ thời thơ ấu và có xu hướng kéo dài đến tuổi thiếu niên và trưởng thành, biểu hiện ra ngoài bằng những khiếm khuyết về tương tác xã hội; khó khăn về giao tiếp ngôn ngữ/phi ngôn ngữ và hành vi, sở thích mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại nhiều lần. 7 RLPTK là do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ và có thể xảy ra ở bất kỳ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo hay địa vị xã hội. Định nghĩa theo Phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10): Xếp các rối loạn phát triển lan toả từ F84.9 với các đặc tính đi kèm như sự suy giảm tưởng tác xã hôi, giao tiếp bằng lời hoặc không lời, hành vi hạn chế và lặp đi lặp lại.[20] Cha mẹ thường nhận thấy đấu hiệu này trong 2 năm đầu đời, những dấu hiệu này thường phát triển dần dần. Mặc dù một số trẻ RLPTK đạt đến mốc phát triển với tốc độ bình thường nhưng sau đó sẽ thoái lui.

Đặc điểm Khởi phát trước 3 tuổi bởi hoạt động bất thường đặc trưng trong 3 lĩnh vực: tác động xã hội qua lại, giao tiếp, và tác phong thu hẹp, lặp lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Hiệu Quả Phương Pháp Cận Tam Châm Trong Điều Trị Rối Loạn Phổ Tự Kỷ Ở Trẻ Em" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng phương pháp cận tam châm trong điều trị rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá hiệu quả của phương pháp mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng cho trẻ em mắc chứng rối loạn này, từ việc cải thiện hành vi đến tăng cường khả năng giao tiếp.

Đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực này, tài liệu mở ra cơ hội để tìm hiểu thêm về các phương pháp điều trị khác nhau. Một tài liệu liên quan mà bạn có thể tham khảo là Luận văn thạc sĩ y học đánh giá tác dụng của phương pháp cận tam châm trong hỗ trợ điều trị trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 18 đến 72 tháng tuổi, nơi bạn có thể tìm thấy những nghiên cứu chi tiết hơn về tác động của phương pháp này đối với trẻ em trong độ tuổi cụ thể.

Khám phá thêm các tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị hiệu quả cho trẻ em mắc rối loạn phổ tự kỷ.