CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu tử cung và các cơ quan liên quan 1. Giải phẫu tử cung 1. Kích thước, vị trí tử cung trong tiểu khung - Tử cung nằm trong tiểu khung, dưới phúc mạc, trên hoành chậu hông, sau bàng quang và trước trực tràng - Kích thước trung bình: cao 6-7 cm, rộng 4-4,5 cm, dày 2 cm.
- Tử cung nặng trung bình 40-50 g ở người chưa sinh đẻ, khoảng 50-70g người đã sinh đẻ. - Tư thế bình thường của tử cung gấp trước và ngả trước. Gấp trước là trục của thân tử cung hợp với trục của CTC thành góc 120 độ, mở ra trước. Ngả trước là trục của thân tử cung hợp với trục của âm đạo thành một góc 90 độ, mở ra trước.
Tử cung còn có một số tư thế bất thường như tử cung ngả sau, lệch trái, lệch phải. Phương tiện giữ tử cung và mối liên quan: Tử cung được giữ tại chỗ nhờ: - Đường bám của âm đạo vào CTC. 5 - Âm đạo được giữ chắc bởi cơ nâng hậu môn, cơ âm đạo- trực tràng và nút thớ trung tâm, nền âm đạo tạo nên chỗ dựa của tử cung. - Tư thế của tử cung: Gập trước và ngả trước, đè lên mặt sau trên của bàng quang tạo với âm đạo một góc, có tác dụng làm tử cung không tụt xuống.
Tử cung và các bộ phận liên quan trong chậu hông - Các dây chằng giữ tử cung: + Dây chằng rộng: 7 Dây chằng rộng chia làm 2 phần: Phần trên là cánh, phần dưới là nền. Dây chằng rộng là nếp phúc mạc gồm 2 lá tạo nên bởi phúc mạc bọc mặt trước và sau tử cung, kéo dài ra 2 bên, chạy từ bờ bên tử cung, vòi tử cung tới thành bên chậu hông gồm 2 mặt và 4 bờ. Mặt trước dưới liên quan đến bàng quang, có một nếp phúc mạc chạy từ góc bên tử cung đến thành bên chậu hông, do dây chằng tròn đội lên tạo thành. Mặt sau trên liên quan với các quai ruột non, đại tràng sigma, có dây chẳng thắt lưng- buồng trứng đội lên, mạc treo buồng trứng dính vào.
Mặt này rộng hơn và xuống thấp hơn mặt trước. Bờ trong dính vào bờ bên của tử cung, có phúc mạc phủ mặt trước và sau tử cung, giữa hai lá có động mạch tử cung. Bờ ngoài dính vào thành bên chậu hông, do 2 lá của dây chằng rộng ở phía trước và sau với phúc mạc thành. Bờ trên tự do phủ lấy vòi tử cung, giữa 2 lá dọc bờ dưới của vòi tử cung có nhánh vòi của động mạch tử cung và động mạch buồng trứng tiếp nối với nhau.
Bờ dưới gọi là đáy, trong đáy dây chằng rộng có động mạch tử cung bắt chéo niệu quản, chỗ bắt chéo cách bờ trên CTC 1.5 cm, ngoài ra trong nền còn có mô liên kết, thần kinh. + Dây chằng tròn 8 Dây chằng tròn: Dài 10-15 cm, chạy từ góc bên tử cung ra trước đội phúc mạc lá trước dây chằng rộng lên cho đến bên chậu hông. Dải cùng mu sinh dục bao gồm những thớ cơ xơ đi từ xương cùng qua trực tràng bám đến chỗ CTC và từ CTC bám vào bàng quang, xương mu phía trước và mặt bên của xương chậu. Dải cùng mu sinh dục tạo nên các dây chằng.
+ Dây chằng tử cung cùng Dây chằng tử cung cùng là dải cơ trơn, mô liên kết đi từ mặt sau CTC, chạy ra sau lên trên, đi 2 bên trực tràng đến bám vào mặt trước xương cùng. + Dây chằng ngang CTC (MacKenroth) Dây chằng ngang CTC là dải mô liên kết đi từ bờ bên tử cung, chạy sang bên dưới nền dây chằng rộng, trên hoành chậu hông tới thành bên chậu hông. + Dây chằng mu bàng quang sinh dục Dây chằng mu bàng quang sinh dục là các thớ từ bờ sau xương mu đến bàng quang, đến CTC và các thớ từ bàng quang đến CTC. Mạch máu - Động mạch tử cung: 9 Đường đi và liên quan của động mạch tử cung: động mạch tử cung là một nhánh tách ra từ động mạch chậu trong.
Về liên quan động mạch tử cung được chia thành 3 đoạn: + Đoạn thành bên chậu hông: động mạch nằm áp sát mặt trong cân cơ bịt trong có phúc mạc phủ lên và tạo nên giới hạn dưới hố buồng trứng. + Đoạn trong nền dây chằng rộng: Động mạch chạy ngang từ ngoài vào trong nền dây chằng rộng, ở đây động mạch bắt chéo trước niệu quản. Chỗ bắt chéo cách eo tử cung 1,5 cm. + Đoạn cạnh tử cung: Khi chạy tới sát bờ bên CTC thì động mạch chạy ngược lên trên theo bờ trên tử cung nằm giữa 2 lá dây chằng rộng, đoạn này động mạch chạy xoắn như lò xo.
+ Nhánh tận: Khi tới sừng tử cung, động mạch chia 4 nhánh tận Nhánh cho đáy tử cung cấp máu cho đáy tử cung Nhánh vòi tử cung trong: Chạy giữa 2 lá mạc treo vòi rồi nối với nhánh vòi tử cung ra ngoài của động mạch buồng trứng, cấp máu cho vòi tử cung và mạc treo vòi. Nhánh buồng trứng trong: Chạy theo dây chằng tử cung - buồng trứng tiếp nối với nhánh buồng trứng ngoài của động mạch buồng trứng cấp máu cho buồng trứng. Nhánh nối trong: Nối với nhánh nối ngoài của động mạch buồng trứng. 10 + Ngành bên: Nhánh cho niệu quản tách ở nền dây chằng rộng.
Nhánh cho bàng quang âm đạo. Nhánh cho CTC có 4-5 nhánh chạy xuống dưới, mỗi nhánh chia đôi chạy vòng mặt trước và mặt sau CTC. Nhánh thân tử cung: Có rất nhiều nhánh chạy xiên qua lớp cơ tử cung. - Tĩnh mạch có 2 đường: + Đường nông chạy kèm theo động mạch tử cung, bắt chéo trước niệu quản rồi đổ về tĩnh mạch hạ vị.
+ Đường sau chạy bắt chéo sau niệu quản và đổ về tĩnh mạch hạ vị. - Bạch mạch: Các bạch mạch ở CTC và thân tử cung thông nối nhau đổ vào cùng một thân chungchạy dọc bên ngoài động mạch tử cung và cuối cùng đổ vào các hạch bạch huyết của động mạch chậu trong, động mạch chậu chung hoặc động mạch chủ bụng. Thần kinh Tử cung được chi phối bởi đám rối thần kinh tử cung - âm đạo. Đám rối này tách ra từ đám rối thần kinh hạ vị dưới, đi trong dây chằng tử cung - cùng đến tử cung ở phần eo tử cung.
Âm đạo Là khoang ảo nối từ tử cung với bộ phận sinh dục ngoài. Thành âm đạo vây xung quanh CTC tạo nên túi bịt, gồm 4 phần trước, hai 11 bên và sau. Trong đó túi bịt sau sâu nhất và liên quan đến túi cùng Douglas. Phía trước âm đạo liên quan với bàng quang và niệu đạo, phía sau âm đạo liên quan với bóng trực tràng.
Đáy chậu Đáy chậu gồm tất cả các phần mềm cân, cơ, dây chằng, bịt lỗ dưới của khung chậu. Đáy chậu có hình trám, giới hạn phía trước là xương mu, hai bên là hai ụ ngồi, phía sau là đỉnh xương cụt. Đường kính lưỡng ụ ngồi chia đáy chậu làm 2 phần: - Phần trước gọi là đáy chậu trước (đáy chậu niệu sinh dục). - Phần sau gọi là đáy chậu sau (đáy chậu hậu môn) [10].
Định nghĩa UXCTC (hay u cơ trơn tử cung, nhân xơ tử cung) là khối u lành tính không rõ nguyên nhân do sự phát triển quá mức của của sợi cơ trơn và mô liên kết ở tử cung. Bệnh có khuynh hướng di truyền. Dịch tễ học UXCTC thường gặp ở phụ nữ 35 tuổi trở lên, chiếm 20%-50% hay gặp nhất ở lứa tuổi 35-50 tuổi, ước tính tỷ lệ mới mắc ở phụ nữ 50 tuổi là 70%. 12 Có nhiều yếu tố làm gia tăng tỷ lệ phát sinh UXCTC: phụ nữ trên 40 tuổi thì tần suất bị UXCTC cao gấp 4 lần phụ nữ dưới 40 tuổi [51].
Ngoài ra còn một số yếu tố khác như: yếu tố di truyền, khoảng cách với các lần sinh con trước, rối loạn chuyển hóa, giai đoạn tiền mãn kinh, lối sống và chế độ ăn uống… 1. Cơ chế bệnh sinh Cơ chế bệnh sinh UXCTC còn chưa được biết rõ, nên vẫn chưa có phương pháp điều trị căn nguyên. Nhiều tác giả cho rằng u xơ là biểu hiện cường estrogen tại chỗ [9]. Người ta dựa vào các triệu chứng sau để giải thích: - Không có UXCTC trước tuổi dậy thì.
- UXCTC có thể tồn tại hoặc có thể giảm kích thước thời kỳ mãn kinh hoặc sau khi cắt bỏ buồng trứng. - Kích thước UXCTC tăng trong quá trình mang thai, nhỏ đi khi kết thúc quá trình mang thai. - Kích thước UXCTC tăng lên khi điều trị bằng estroprogestatif. - U xơ to lên sau mãn kinh nếu điều trị bằng hocmon thay thế.
13 - Niêm mạc tử cung của người bị u xơ thông thường có quá sản niêm mạc niêm mạc có thể gây rong kinh, rong huyết. Có nhiều giả thuyết khác - Thuyết về nội tiết: Vai trò riêng rẽ của Estrogen và Progesterone chưa được xác định, vai trò của chúng có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các yếu tố tăng trưởng như EGF (Epidermal Growth Factor) hay IGF1. - Thuyết về di truyền: Người ta tìm thấy có các rối loạn nhiễm sắc thể 6,7,10,11,14 trong tế bào khối u. Phân loại u xơ cơ tử cung UXCTC được phân loại theo 2 cách, theo tính chất và theo vị trí khối u.
Theo tính chất, u xơ có 2 dạng: Không có triệu chứng và có triệu chứng. Hầu hết UXCTC thuộc dạng không có triệu chứng thường không cần can thiệp. UXCTC có triệu chứng cần điều trị và theo dõi. Theo vị trí hiện nay, hệ thống phân loại UXCTC của hiệp hội Sản Phụ khoa Quốc tế FIGO năm 2011 được sử dụng phổ biến nhất [32].
Phân loại theo FIGO° UXCTC thuộc nhóm L0, L1, L2 thường gây triệu chứng xuất huyết tử cung bất thường, có thể là nguyên nhân gây vô sinh và sảy thai. Nhóm này cần điều trị bằng phương pháp nội soi buồng tử cung UXCTC L3 cũng có thể gây triệu chứng xuất huyết tử cung bất thường hoặc không. Điều trị nhóm này thường ưu tiên sử dụng bằng thuốc để làm giảm kích thước khối u trước khi mang thai. UXCTC L4-L8 thường không gây xuất huyết tử cung bất thường.
U xơ nhóm này cần điều trị khi kích thước khối u to gây chèn ép làm ứ nước ở thận, bí tiểu hoặc táo bón. Có thể cân nhắc điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật bóc u xơ đối với phụ nữa còn nguyện vọng mang thai. Vị trí, số lượng, kích thước của khối u xơ - Vị trí UXCTC thay đổi tùy theo các phần khác nhau của tử cung. Vị trí thường gặp nhất là ở thân tử cung (96%), ở eo tử cung (3%) còn u xơ ở CTC rất hiếm, khoảng 1%.