Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu đại tràng phải 1. Hình thể ngoài Đại tràng hay còn gọi là kết tràng dài 1,2-1,6m, nằm trong ổ bụng theo hình chữ U ngược, quây lấy các quai ruột non từ phải sang trái và bao gồm các thành phần: manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng Sigma và khúc nối đại tràng Sigma - trực tràng [5]. Đại tràng phải hay đại tràng lên xuất phát từ manh tràng chạy dọc bên phải ổ phúc mạc đến mặt tạng của gan.
Tại đây đại tràng cong sang trái tạo nên góc đại tràng phải (đại tràng góc gan) nằm ở hạ sườn phải, sau sụn sườn. Đại tràng phải bao gồm manh tràng, đại tràng lên, đại tràng góc gan và phần phải của đại tràng ngang [17]. Nhìn chung, đại tràng có đường kính to nhất ở manh tràng và giảm dần về phía hậu môn. Các thành phần của đại tràng phải 1.
Manh tràng và ruột thừa Vị trí và hình thể ngoài Manh tràng là phần đại tràng nằm phía dưới góc hồi manh tràng, là một túi cùng của đại tràng và liên tiếp với đại tràng lên ở phía trên. Manh tràng cao khoảng 6cm, rộng khoảng 7,5cm. Manh tràng có ba dải cơ liên tiếp với ba dải cơ dọc của đại tràng lên: dải trước (hay dải tự do), dải sau trong (hay dải mạc treo) và dải sau ngoài (hay dải mạc nối). Ruột thừa có hình con giun dài 3-13cm, trung bình 8cm, mở vào manh tràng qua lỗ ruột thừa, ruột thừa là do phần đầu của manh tràng thoái hóa mà thành [17].
Gốc của ruột thừa thường dính vào mặt sau trong của manh tràng, 4 cách phía dưới góc hồi manh tràng 2-3cm, là nơi nội tụ của ba dãy cơ dọc (mốc tìm ruột thừa). Tuy nhiên, nhìn chung thì vị trí ruột thừa rất thay đổi, có thể trong chậu hông, sau manh tràng hay sau đại tràng. Giải phẫu vùng manh tràng (Nguồn: Atlas of human anatomy, 7th edition, 2019, [73]) Liên quan của manh tràng: manh tràng có 6 mặt liên quan - Mặt trước: liên quan với thành bụng trước, là mặt phẫu thuật. Manh tràng và ruột thừa nằm áp sát ngay sau các lớp của thành bụng trước, có điểm đối chiếu của ruột thừa lên thành bụng trước (điểm McBurney).
5 - Mặt sau: nằm trên cơ thắt lưng chậu, tuy nhiên vẫn còn được ngăn cách với cơ này bởi một lá mạc chậu dày. Trong mô liên kết dưới phúc mạc có các nhánh của đám rối thần kinh thắt lưng gồm thần kinh bì đùi ngoài, thần kinh sinh dục đùi và thần kinh đùi. Xa hơn nữa về phía dưới trong phúc mạc còn có bó mạch sinh dục, niệu quản phải và các mạch chậu phải. Trong phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải do ung thư, manh tràng và góc hồi manh tràng thường được di động dễ dàng ra khỏi phúc mạc thành sau do mô liên kết lỏng lẻo.
Tuy nhiên cần phải phẫu tích cẩn thận do có thể tổn thương những cấu trúc kể trên [42]. - Mặt trong: có hồi tràng đổ vào, tạo thành góc hồi manh tràng, có liên quan tới các quai ruột non. - Mặt ngoài: liên quan với rãnh đại tràng phải và hố chậu phải. - Mặt trên: liên tiếp với đại tràng lên.
- Mặt dưới: đáy manh tràng nằm trong góc do lá thành phúc mạc từ hố chậu phải lật lên thành bụng trước. Phúc mạc của manh tràng: manh tràng thường di động và được bọc hoàn toàn bởi phúc mạc. Đôi khi hai bờ bên của manh tràng cũng có thể dính vào thành bụng sau bởi những nếp manh tràng, giới hạn một ngách sau manh tràng. Một số ngách của manh tràng được tạo nên bởi các nếp phúc mạc như sau: ngách hồi manh tràng trên, ngách hồi manh tràng dưới, ngách sau manh tràng.
Đại tràng lên, đại tràng góc gan và phần phải đại tràng ngang Vị trí và hình thể ngoài Đại tràng lên dài khoảng 15cm, đường kính nhỏ hơn manh tràng nhưng to hơn các đoạn đại tràng còn lại và liên tục với manh tràng ở phía dưới, đến mặt tạng của gan thì gập góc sang trái tạo thành đại tràng góc gan. 6 Đại tràng góc gan là góc gập giữa đại tràng lên và đại tràng ngang, khoảng 600-800 và mở ra trước, xuống dưới, sang trái. Mặt sau không có phúc mạc phủ dính vào thành bụng sau, do đó liên quan trực tiếp đến mạc thận. Phần phải đại tràng ngang: là đoạn đầu tiên của đại tràng ngang, từ góc gan đến bờ ngoài đoạn D2 tá tràng.
Liên quan của cả ba phần: đại tràng lên nằm ở bờ phải ổ bụng, từ ngang mức mào chậu đến ngang mức xương sườn X, trên đường nách giữa. Ở dưới, nó nằm tương đối nông, gần thành bụng trước, càng lên cao thì càng sâu, nằm ở giữa gan về phía trước và thận phía sau. Mặt trước: liên quan với thành bụng trước bên, mặt tạng thùy gan phải và các quai ruột non. Mặt sau: đại tràng lên liên quan với hố chậu phải ở phía dưới, cơ thắt lưng chậu, cơ vuông thắt lưng.
Riêng đại tràng góc gan ở mặt sau không có phúc mạc phủ dính vào thành bụng sau, do đó liên quan trực tiếp đến mạc thận. Mặt sau phần phải đại tràng ngang là đoạn cố định, dính vào mặt trước thận phải và phần xuống tá tràng. Mặt trong: liên quan với các quai ruột non, đoạn D2 tá tràng. Mặt ngoài: cùng với phúc mạc thành bụng bên tạo thành rãnh đại tràng phải.
Mạc treo đại tràng lên: mạc treo đại tràng lên dính vào phúc mạc thành bụng sau tạo nên mạc dính đại tràng phải. Phúc mạc thành ở bên phải lật lên để phủ mặt bên đại tràng tạo thành rãnh cạnh đại tràng. Giới hạn của mạc treo đại tràng lên ở trên bởi rễ mạc treo đại tràng ngang, ở dưới và bên trái bởi rễ mạc treo tiểu tràng [14]. Mạc treo đại tràng ngang: là một vách phúc mạc hướng chếch ra trước và xuống dưới, treo đại tràng ngang vào thành bụng sau.
Mạc này hẹp ở hai đầu nhưng rộng ở giữa (10-15cm), gồm 2 bờ và 2 mặt: 7 - Bờ bám vào thành bụng sau gọi là rễ mạc treo đại tràng ngang, bám theo một đường chếch lên trên và sang trái, từ khúc D2 tá tràng qua đầu tụy và bám dọc theo bờ trước thân tụy. - Bờ bám vào đại tràng ngang gọi là bờ ruột. - Mặt trên: có 2 lá sau đi lên của mạc nối lớn phủ lên và dính vào, góp phần tạo nên phần dưới thành sau túi mạc nối. - Mặt dưới: tạo bởi 2 lá chính của mạc treo đại tràng ngang, khi tới rễ mạc treo thì quặt xuống liên tiếp với phần dính của các mạc treo đại tràng lên và xuống: phần ở bên phải liên tiếp với mạc treo đại tràng lên phủ ở trước phần dưới tá tụy, phần ở bên trái liên tiếp với mạc treo đại tràng xuống nằm ở phía sau D4 tá tràng, góc hồi manh tràng và các quai ruột non.
Trong PTNS cắt đại tràng phải hoặc đại tràng phải mở rộng do ung thư, để bộc lộ bó mạch đại tràng phải và đại tràng giữa trước hết phải bóc tách mạc treo đại tràng ngang ra khỏi tá tràng và đầu tụy, cần chú ý tĩnh mạch tá tụy dưới khi phẫu tích. Khi kẹp và cắt bó mạch đại tràng phải cũng cần tránh làm tổn thương bó mạch vị mạc nối phải [42]. Cấu tạo và hình thể trong đại tràng phải Đại tràng phải nói riêng hay ruột già nói chung từ trong ra ngoài có cấu tạo từ năm lớp: - Lớp niêm mạc: khác ruột non, niêm mạc đại tràng nhẵn, không có nếp vòng và mao tràng, chỉ những nếp bán nguyệt tương ứng với các nếp ngang nhô vào lòng đại tràng và biến mất khi đại tràng căng phồng. Các tuyến niêm mạc dài và nhiều hơn ở ruột non nhưng chỉ tiết chất nhầy.
Có nhiều nang bạch huyết đơn độc, không có nang bạch huyết dạng chùm. Nang đơn độc nhiều nhất ở manh tràng, đặc biệt là ruột thừa, nhưng lại rãi rác ở các phần còn lại [14]. - Lớp dưới niêm mạc: là một lớp mô liên kết chứa nhiều mạch máu và thần kinh. 8 - Lớp cơ: có hai tầng.
+ Tầng trong là cơ vòng và mỏng hơn nhiều so với ruột non. Tập trung nhiều hơn ở những chỗ thắt giữa các túi phình đại tràng. + Tầng ngoài là cơ dọc, phần lớn tập trung tạo thành ba dải cơ dọc. Giữa ba dải, lớp cơ dọc rất mỏng.
Các dải cơ này thấy rõ ở manh tràng và đại tràng lên, hơi phân tán ở đại tràng xuống và không thấy ở đại tràng Sigma [5]. - Lớp dưới thanh mạc: là lớp mô liên kết đóng vai trò dính lớp thanh mạc vào lớp cơ. - Lớp thanh mạc: là lớp phúc mạc tạng của đại tràng, bọc lấy toàn bộ những đoạn đại tràng di động như manh tràng và đại tràng ngang ngoại trừ ở vị trí bám của mạc treo nhưng không phủ hết mặt dính vào thành bụng sau của đại tràng lên. Mạch máu đại tràng phải Đại tràng phải được cấp máu bởi động mạch mạc treo tràng trên (ĐMMTTT).
ĐMMTTT tách ra từ mặt trước động mạch chủ bụng, ngang mức đốt sống thắt lưng I. Từ chỗ phát sinh, động mạch đi xuống dưới và sang phải, tới hố chậu phải, tận cùng ở bờ mạc treo hồi tràng cách góc hồi – manh tràng khoảng 8cm. ĐMMTTT cho nhiều nhánh bên, trong đó có các nhánh nuôi khối tá tụy, các nhánh nuôi toàn bộ ruột non, các nhánh nuôi đại tràng phải. Các nhánh cung cấp máu cho đại tràng phải được tách ra từ bờ phải của ĐMMTTT, từ trên xuống dưới bao gồm: - Động mạch đại tràng giữa: tách ra từ ĐMMTTT ở dưới cổ tụy, đi trong mạc treo đại tràng ngang tới gần giữa đại tràng ngang thì chia hai nhánh phải và trái.
Nhánh đi sang phải nối với động mạch đại tràng phải, nhánh đi sang trái nối với động mạch đại tràng trái. Động mạch đại tràng phải cùng với động mạch đại tràng giữa và động mạch đại tràng trái tạo nên cung Riolan cung cấp máu 9 cho đại tràng ngang. Khoảng 3% trường hợp không có động mạch đại tràng giữa [34]. - Động mạch đại tràng phải: tách từ phần cao của ĐMMTTT, đi tới phần giữa đại tràng lên thì chia 2 nhánh gồm nhánh lên và nhánh xuống gọi là động mạch bờ đại tràng.
- Động mạch hồi đại tràng: là nhánh thấp nhất chia ra từ bờ phải ĐMMTTT, chạy tới manh tràng và chia 5 nhánh: + Nhánh hồi tràng: chia đôi, một chạy về phía đại tràng nối với nhánh đại tràng, một chạy về phía hồi tràng nối với nhánh tận của ĐMMTTT tạo thành cung mạch Trèves.