Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại cần thơ năm 2018 2020

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi điều trị ung, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Y Dược Cần Thơ

Chuyên ngành

Ung thư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn bác sĩ nội trú

2020

126
9
2

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu đại tràng phải

1.2. Ung thư đại tràng phải

1.3. Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải

1.4. Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Vấn đề y đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân

3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.3. Kỹ thuật mổ

3.4. Kết quả sớm

3.5. Theo dõi sau ra viện

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.3. Kỹ thuật mổ

4.4. Kết quả sớm sau phẫu thuật

4.5. Theo dõi sau ra viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Phẫu Thuật Nội Soi Ung Thư Đại Tràng Phải

Nghiên cứu phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại Cần Thơ giai đoạn 2018-2020 đã chỉ ra những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng quan trọng. Ung thư đại tràng phải là một trong những loại ung thư phổ biến tại Việt Nam, với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng. Phẫu thuật nội soi được xem là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp giảm thiểu đau đớn và thời gian hồi phục cho bệnh nhân.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Bệnh Nhân Ung Thư Đại Tràng Phải

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ung thư đại tràng phải thường bao gồm triệu chứng như đau bụng, thay đổi thói quen đại tiện và giảm cân không rõ nguyên nhân. Theo thống kê, bệnh nhân thường nhập viện ở giai đoạn muộn, làm tăng độ khó trong điều trị.

1.2. Tình Hình Điều Trị Ung Thư Đại Tràng Phải Tại Cần Thơ

Tại Cần Thơ, phẫu thuật nội soi đã được áp dụng từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và đánh giá kết quả phẫu thuật vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về hiệu quả của phương pháp này trong điều trị ung thư đại tràng phải.

II. Thách Thức Trong Điều Trị Ung Thư Đại Tràng Phải

Điều trị ung thư đại tràng phải gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc chẩn đoán sớm và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Nhiều bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến tỷ lệ sống sót thấp. Việc áp dụng phẫu thuật nội soi cũng gặp phải những nghi ngại về hiệu quả và an toàn.

2.1. Vấn Đề Chẩn Đoán Sớm Ung Thư Đại Tràng

Chẩn đoán sớm ung thư đại tràng là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả điều trị. Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng, dẫn đến việc chẩn đoán muộn và làm giảm khả năng điều trị thành công.

2.2. Những Rủi Ro Khi Thực Hiện Phẫu Thuật Nội Soi

Phẫu thuật nội soi mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro như biến chứng sau mổ và khả năng tái phát. Việc nạo vét hạch cũng là một vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả điều trị.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Kết Quả Phẫu Thuật Nội Soi

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu từ bệnh nhân đã phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại các bệnh viện lớn ở Cần Thơ. Các chỉ số được thu thập bao gồm thời gian phẫu thuật, biến chứng sau mổ và thời gian hồi phục.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu Và Đối Tượng

Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm bệnh nhân từ 2018 đến 2020, với tiêu chí chọn lọc rõ ràng. Đối tượng nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đại tràng phải và đã thực hiện phẫu thuật nội soi.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Và Kết Quả

Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê, cho phép đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Kết quả cho thấy phẫu thuật nội soi mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân, bao gồm thời gian hồi phục nhanh và ít biến chứng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Phẫu Thuật Nội Soi

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại Cần Thơ có tỷ lệ thành công cao. Thời gian hồi phục trung bình của bệnh nhân là ngắn hơn so với phẫu thuật mở, và tỷ lệ biến chứng cũng thấp hơn.

4.1. Tỷ Lệ Thành Công Của Phẫu Thuật Nội Soi

Tỷ lệ thành công của phẫu thuật nội soi đạt khoảng 90%, cho thấy đây là phương pháp hiệu quả trong điều trị ung thư đại tràng phải. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc lựa chọn bệnh nhân phù hợp là rất quan trọng.

4.2. Thời Gian Hồi Phục Sau Phẫu Thuật

Thời gian hồi phục trung bình sau phẫu thuật nội soi là khoảng 5-7 ngày, ngắn hơn so với phẫu thuật mở. Điều này giúp bệnh nhân sớm trở lại với cuộc sống sinh hoạt bình thường.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Phẫu Thuật Nội Soi Tại Cần Thơ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phẫu thuật nội soi là một phương pháp điều trị hiệu quả cho ung thư đại tràng phải tại Cần Thơ. Kết quả cho thấy cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng rộng rãi phương pháp này để nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư đại tràng phải để xác định rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả. Việc mở rộng quy mô nghiên cứu sẽ giúp cung cấp thông tin quý giá cho cộng đồng y tế.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Phẫu Thuật Nội Soi

Phẫu thuật nội soi không chỉ mang lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn góp phần giảm gánh nặng cho hệ thống y tế. Việc áp dụng phương pháp này cần được khuyến khích và phát triển hơn nữa.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi điều trị ung thư đại tràng phải tại cần thơ năm 2018 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu đại tràng phải 1. Hình thể ngoài Đại tràng hay còn gọi là kết tràng dài 1,2-1,6m, nằm trong ổ bụng theo hình chữ U ngược, quây lấy các quai ruột non từ phải sang trái và bao gồm các thành phần: manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng Sigma và khúc nối đại tràng Sigma - trực tràng [5]. Đại tràng phải hay đại tràng lên xuất phát từ manh tràng chạy dọc bên phải ổ phúc mạc đến mặt tạng của gan.

Tại đây đại tràng cong sang trái tạo nên góc đại tràng phải (đại tràng góc gan) nằm ở hạ sườn phải, sau sụn sườn. Đại tràng phải bao gồm manh tràng, đại tràng lên, đại tràng góc gan và phần phải của đại tràng ngang [17]. Nhìn chung, đại tràng có đường kính to nhất ở manh tràng và giảm dần về phía hậu môn. Các thành phần của đại tràng phải 1.

Manh tràng và ruột thừa Vị trí và hình thể ngoài Manh tràng là phần đại tràng nằm phía dưới góc hồi manh tràng, là một túi cùng của đại tràng và liên tiếp với đại tràng lên ở phía trên. Manh tràng cao khoảng 6cm, rộng khoảng 7,5cm. Manh tràng có ba dải cơ liên tiếp với ba dải cơ dọc của đại tràng lên: dải trước (hay dải tự do), dải sau trong (hay dải mạc treo) và dải sau ngoài (hay dải mạc nối). Ruột thừa có hình con giun dài 3-13cm, trung bình 8cm, mở vào manh tràng qua lỗ ruột thừa, ruột thừa là do phần đầu của manh tràng thoái hóa mà thành [17].

Gốc của ruột thừa thường dính vào mặt sau trong của manh tràng, 4 cách phía dưới góc hồi manh tràng 2-3cm, là nơi nội tụ của ba dãy cơ dọc (mốc tìm ruột thừa). Tuy nhiên, nhìn chung thì vị trí ruột thừa rất thay đổi, có thể trong chậu hông, sau manh tràng hay sau đại tràng. Giải phẫu vùng manh tràng (Nguồn: Atlas of human anatomy, 7th edition, 2019, [73]) Liên quan của manh tràng: manh tràng có 6 mặt liên quan - Mặt trước: liên quan với thành bụng trước, là mặt phẫu thuật. Manh tràng và ruột thừa nằm áp sát ngay sau các lớp của thành bụng trước, có điểm đối chiếu của ruột thừa lên thành bụng trước (điểm McBurney).

5 - Mặt sau: nằm trên cơ thắt lưng chậu, tuy nhiên vẫn còn được ngăn cách với cơ này bởi một lá mạc chậu dày. Trong mô liên kết dưới phúc mạc có các nhánh của đám rối thần kinh thắt lưng gồm thần kinh bì đùi ngoài, thần kinh sinh dục đùi và thần kinh đùi. Xa hơn nữa về phía dưới trong phúc mạc còn có bó mạch sinh dục, niệu quản phải và các mạch chậu phải. Trong phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải do ung thư, manh tràng và góc hồi manh tràng thường được di động dễ dàng ra khỏi phúc mạc thành sau do mô liên kết lỏng lẻo.

Tuy nhiên cần phải phẫu tích cẩn thận do có thể tổn thương những cấu trúc kể trên [42]. - Mặt trong: có hồi tràng đổ vào, tạo thành góc hồi manh tràng, có liên quan tới các quai ruột non. - Mặt ngoài: liên quan với rãnh đại tràng phải và hố chậu phải. - Mặt trên: liên tiếp với đại tràng lên.

- Mặt dưới: đáy manh tràng nằm trong góc do lá thành phúc mạc từ hố chậu phải lật lên thành bụng trước. Phúc mạc của manh tràng: manh tràng thường di động và được bọc hoàn toàn bởi phúc mạc. Đôi khi hai bờ bên của manh tràng cũng có thể dính vào thành bụng sau bởi những nếp manh tràng, giới hạn một ngách sau manh tràng. Một số ngách của manh tràng được tạo nên bởi các nếp phúc mạc như sau: ngách hồi manh tràng trên, ngách hồi manh tràng dưới, ngách sau manh tràng.

Đại tràng lên, đại tràng góc gan và phần phải đại tràng ngang Vị trí và hình thể ngoài Đại tràng lên dài khoảng 15cm, đường kính nhỏ hơn manh tràng nhưng to hơn các đoạn đại tràng còn lại và liên tục với manh tràng ở phía dưới, đến mặt tạng của gan thì gập góc sang trái tạo thành đại tràng góc gan. 6 Đại tràng góc gan là góc gập giữa đại tràng lên và đại tràng ngang, khoảng 600-800 và mở ra trước, xuống dưới, sang trái. Mặt sau không có phúc mạc phủ dính vào thành bụng sau, do đó liên quan trực tiếp đến mạc thận. Phần phải đại tràng ngang: là đoạn đầu tiên của đại tràng ngang, từ góc gan đến bờ ngoài đoạn D2 tá tràng.

Liên quan của cả ba phần: đại tràng lên nằm ở bờ phải ổ bụng, từ ngang mức mào chậu đến ngang mức xương sườn X, trên đường nách giữa. Ở dưới, nó nằm tương đối nông, gần thành bụng trước, càng lên cao thì càng sâu, nằm ở giữa gan về phía trước và thận phía sau. Mặt trước: liên quan với thành bụng trước bên, mặt tạng thùy gan phải và các quai ruột non. Mặt sau: đại tràng lên liên quan với hố chậu phải ở phía dưới, cơ thắt lưng chậu, cơ vuông thắt lưng.

Riêng đại tràng góc gan ở mặt sau không có phúc mạc phủ dính vào thành bụng sau, do đó liên quan trực tiếp đến mạc thận. Mặt sau phần phải đại tràng ngang là đoạn cố định, dính vào mặt trước thận phải và phần xuống tá tràng. Mặt trong: liên quan với các quai ruột non, đoạn D2 tá tràng. Mặt ngoài: cùng với phúc mạc thành bụng bên tạo thành rãnh đại tràng phải.

Mạc treo đại tràng lên: mạc treo đại tràng lên dính vào phúc mạc thành bụng sau tạo nên mạc dính đại tràng phải. Phúc mạc thành ở bên phải lật lên để phủ mặt bên đại tràng tạo thành rãnh cạnh đại tràng. Giới hạn của mạc treo đại tràng lên ở trên bởi rễ mạc treo đại tràng ngang, ở dưới và bên trái bởi rễ mạc treo tiểu tràng [14]. Mạc treo đại tràng ngang: là một vách phúc mạc hướng chếch ra trước và xuống dưới, treo đại tràng ngang vào thành bụng sau.

Mạc này hẹp ở hai đầu nhưng rộng ở giữa (10-15cm), gồm 2 bờ và 2 mặt: 7 - Bờ bám vào thành bụng sau gọi là rễ mạc treo đại tràng ngang, bám theo một đường chếch lên trên và sang trái, từ khúc D2 tá tràng qua đầu tụy và bám dọc theo bờ trước thân tụy. - Bờ bám vào đại tràng ngang gọi là bờ ruột. - Mặt trên: có 2 lá sau đi lên của mạc nối lớn phủ lên và dính vào, góp phần tạo nên phần dưới thành sau túi mạc nối. - Mặt dưới: tạo bởi 2 lá chính của mạc treo đại tràng ngang, khi tới rễ mạc treo thì quặt xuống liên tiếp với phần dính của các mạc treo đại tràng lên và xuống: phần ở bên phải liên tiếp với mạc treo đại tràng lên phủ ở trước phần dưới tá tụy, phần ở bên trái liên tiếp với mạc treo đại tràng xuống nằm ở phía sau D4 tá tràng, góc hồi manh tràng và các quai ruột non.

Trong PTNS cắt đại tràng phải hoặc đại tràng phải mở rộng do ung thư, để bộc lộ bó mạch đại tràng phải và đại tràng giữa trước hết phải bóc tách mạc treo đại tràng ngang ra khỏi tá tràng và đầu tụy, cần chú ý tĩnh mạch tá tụy dưới khi phẫu tích. Khi kẹp và cắt bó mạch đại tràng phải cũng cần tránh làm tổn thương bó mạch vị mạc nối phải [42]. Cấu tạo và hình thể trong đại tràng phải Đại tràng phải nói riêng hay ruột già nói chung từ trong ra ngoài có cấu tạo từ năm lớp: - Lớp niêm mạc: khác ruột non, niêm mạc đại tràng nhẵn, không có nếp vòng và mao tràng, chỉ những nếp bán nguyệt tương ứng với các nếp ngang nhô vào lòng đại tràng và biến mất khi đại tràng căng phồng. Các tuyến niêm mạc dài và nhiều hơn ở ruột non nhưng chỉ tiết chất nhầy.

Có nhiều nang bạch huyết đơn độc, không có nang bạch huyết dạng chùm. Nang đơn độc nhiều nhất ở manh tràng, đặc biệt là ruột thừa, nhưng lại rãi rác ở các phần còn lại [14]. - Lớp dưới niêm mạc: là một lớp mô liên kết chứa nhiều mạch máu và thần kinh. 8 - Lớp cơ: có hai tầng.

+ Tầng trong là cơ vòng và mỏng hơn nhiều so với ruột non. Tập trung nhiều hơn ở những chỗ thắt giữa các túi phình đại tràng. + Tầng ngoài là cơ dọc, phần lớn tập trung tạo thành ba dải cơ dọc. Giữa ba dải, lớp cơ dọc rất mỏng.

Các dải cơ này thấy rõ ở manh tràng và đại tràng lên, hơi phân tán ở đại tràng xuống và không thấy ở đại tràng Sigma [5]. - Lớp dưới thanh mạc: là lớp mô liên kết đóng vai trò dính lớp thanh mạc vào lớp cơ. - Lớp thanh mạc: là lớp phúc mạc tạng của đại tràng, bọc lấy toàn bộ những đoạn đại tràng di động như manh tràng và đại tràng ngang ngoại trừ ở vị trí bám của mạc treo nhưng không phủ hết mặt dính vào thành bụng sau của đại tràng lên. Mạch máu đại tràng phải Đại tràng phải được cấp máu bởi động mạch mạc treo tràng trên (ĐMMTTT).

ĐMMTTT tách ra từ mặt trước động mạch chủ bụng, ngang mức đốt sống thắt lưng I. Từ chỗ phát sinh, động mạch đi xuống dưới và sang phải, tới hố chậu phải, tận cùng ở bờ mạc treo hồi tràng cách góc hồi – manh tràng khoảng 8cm. ĐMMTTT cho nhiều nhánh bên, trong đó có các nhánh nuôi khối tá tụy, các nhánh nuôi toàn bộ ruột non, các nhánh nuôi đại tràng phải. Các nhánh cung cấp máu cho đại tràng phải được tách ra từ bờ phải của ĐMMTTT, từ trên xuống dưới bao gồm: - Động mạch đại tràng giữa: tách ra từ ĐMMTTT ở dưới cổ tụy, đi trong mạc treo đại tràng ngang tới gần giữa đại tràng ngang thì chia hai nhánh phải và trái.

Nhánh đi sang phải nối với động mạch đại tràng phải, nhánh đi sang trái nối với động mạch đại tràng trái. Động mạch đại tràng phải cùng với động mạch đại tràng giữa và động mạch đại tràng trái tạo nên cung Riolan cung cấp máu 9 cho đại tràng ngang. Khoảng 3% trường hợp không có động mạch đại tràng giữa [34]. - Động mạch đại tràng phải: tách từ phần cao của ĐMMTTT, đi tới phần giữa đại tràng lên thì chia 2 nhánh gồm nhánh lên và nhánh xuống gọi là động mạch bờ đại tràng.

- Động mạch hồi đại tràng: là nhánh thấp nhất chia ra từ bờ phải ĐMMTTT, chạy tới manh tràng và chia 5 nhánh: + Nhánh hồi tràng: chia đôi, một chạy về phía đại tràng nối với nhánh đại tràng, một chạy về phía hồi tràng nối với nhánh tận của ĐMMTTT tạo thành cung mạch Trèves.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Kết Quả Phẫu Thuật Nội Soi Điều Trị Ung Thư Đại Tràng Phải Tại Cần Thơ (2018-2020)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư đại tràng phải. Nghiên cứu này không chỉ phân tích kết quả phẫu thuật mà còn đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quy trình điều trị. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin quý giá về tỷ lệ hồi phục, biến chứng và những lợi ích của phẫu thuật nội soi so với các phương pháp truyền thống.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng thương tổn và đánh giá kết quả lâu dài phẫu thuật triệt căn ung thư phần trên dạ dày, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về các đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật trong điều trị ung thư dạ dày. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo trực tràng điều trị ung thư trực tràng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng của phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư trực tràng. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm nhiều góc nhìn và thông tin bổ ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực điều trị ung thư.