Tổng quan luận án
Công trình "Ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I đến IIA" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Lợi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đặng Hanh Đệ, bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021, thuộc chuyên ngành Ung thư (Mã số: 62720149).
Theo thống kê của GLOBOCAN 2018 tại Việt Nam, ung thư phổi đứng hàng thứ hai sau ung thư gan với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở cả hai giới là 21,7/100.000 dân (ở nam giới là 35,4 và ở nữ giới là 11,1). Bệnh là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thư ở người lớn, ước tính mỗi năm có khoảng gần 21.000 ca tử vong. Phương pháp phẫu thuật chuẩn truyền thống là mở ngực kinh điển với đường rạch dài trên 15 cm kèm theo banh sườn để cắt thùy phổi và nạo vét hạch, khiến bệnh nhân chịu nhiều đau đớn kéo dài sau phẫu thuật.
Sự phát triển của phẫu thuật nội soi lồng ngực (PTNSLN / VATS) đã mở ra hướng can thiệp ít xâm lấn, giảm đau đớn và rút ngắn thời gian hồi phục. Tuy nhiên, khả năng nạo vét hạch triệt để về mặt ung thư học của phẫu thuật nội soi so với mở ngực tiêu chuẩn vẫn là vấn đề còn nhiều thảo luận trong y văn. Tại Việt Nam, các nghiên cứu công bố trước đây chủ yếu tập trung vào kỹ thuật cắt thùy phổi, trong khi số liệu về khả năng nạo vét hạch hệ thống qua nội soi lồng ngực còn thiếu hụt. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống này với hai mục tiêu cụ thể:
- Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I - IIA tại Bệnh viện K.
- Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I – IIA tại Bệnh viện K.
Nghiên cứu được tiến hành trên nhóm bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I đến IIA được chỉ định và thực hiện phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi kèm nạo vét hạch tại Khoa Ngoại Lồng ngực - Bệnh viện K.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Phẫu thuật nội soi lồng ngực bắt đầu từ năm 1866 khi Francis Richard Cruise (Ireland) dùng ống soi cải tiến khám khoang màng phổi qua lỗ rò thành ngực. Đến năm 1910, Hans Christian Jacobeus (Thụy Điển) lần đầu dùng thuật ngữ "laparothorakoskopie" bằng ống soi cứng. Quá trình phát triển trải qua ba giai đoạn chính: giai đoạn khởi đầu (đến thập niên 1950), giai đoạn gián đoạn (1950–1990 do sự xuất hiện của thuốc điều trị lao), và giai đoạn phát triển từ thập niên 1990 với phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi video (1992), phẫu thuật tim ít xâm lấn (MICS) và phẫu thuật robot (RATS).
Nhiều nghiên cứu quốc tế đã công bố kết quả về phẫu thuật cắt thùy phổi qua nội soi lồng ngực:
- Jesus Loscertales (1993–2007) báo cáo 460 trường hợp cắt thùy phổi qua nội soi, thời gian phẫu thuật trung bình 95 phút, tỷ lệ chuyển mổ mở là 39 ca (13 ca do chảy máu, 11 ca do khó khăn kỹ thuật), thời gian nằm viện trung bình 4,1 ngày, tử vong chu phẫu 2%, tỷ lệ sống sau 5 năm đạt 77,7%.
- Akinori Iwasaki (1993–2002) phẫu thuật cho 100 bệnh nhân, có 3 ca chuyển mổ mở, tỷ lệ sống sau 5 năm giai đoạn I là 80,9% và giai đoạn II là 70,3%.
- Daniels và cộng sự báo cáo 108 trường hợp: chuyển mổ mở 1,8%, tử vong chu phẫu 3,6%, thời gian nằm viện trung bình 3,0 ngày, thời gian mổ 130 phút.
- McKenna và cộng sự nghiên cứu trên 1.100 trường hợp, ghi nhận tỷ lệ tử vong chu phẫu giảm còn 0,8%, lượng máu mất trung bình 150 ml, nằm viện trung bình 4,7 ngày.
- Sofina Begum (2014) tổng kết trên 2.000 ca tại 235 trung tâm thuộc Hiệp hội Phẫu thuật Lồng ngực Châu Âu, ghi nhận tỷ lệ cắt thùy kèm nạo hạch qua nội soi dao động từ 18,8% đến 55%.
| Nghiên cứu |
n |
UTP (%) |
Tỷ lệ tử vong (%) |
Tử vong tích lũy (%) |
Thời gian nằm viện (ngày) |
Thời gian PT (phút) |
Lượng máu mất (ml) |
Sống sau 3 năm (%) |
Sống sau 5 năm (%) |
| Sugi et al. |
48 |
48 |
- |
- |
- |
- |
- |
90% |
90% |
| Craig et al. |
22 |
18 |
0 |
9% |
8,6 |
141 |
- |
- |
- |
| Kirby et al. |
25 |
25 |
0 |
24% |
7,1 |
161 |
<250 |
- |
- |
| Yim et al. |
214 |
168 |
0,4% |
21,9% |
6,8 |
- |
- |
93% |
- |
| Kaseda et al. |
145 |
103 |
0,8% |
- |
- |
- |
- |
94,4% |
- |
| Solaini et al. |
112 |
99 |
0 |
11,6% |
5,8 |
- |
- |
85% |
90% (gđ I) |
| McKenna et al. |
1100 |
1015 |
0,8% |
15,3% |
4,7 |
- |
150 |
- |
- |
| Daniels et al. |
108 |
108 |
3,6% |
19,1% |
3,0 |
130 |
- |
- |
- |
Tại Việt Nam, kỹ thuật nội soi màng phổi được Nguyễn Việt Cồ thực hiện năm 1978 tại Viện Lao và Bệnh phổi Trung ương trên 6 trường hợp. Năm 1996, PTNSLN được tiến hành tại Bệnh viện Bình Dân. Năm 2008, Văn Tần và cs. công bố cắt thùy phổi hỗ trợ video cho 25 bệnh nhân (trong 141 ca cắt thùy do ung thư, tử vong 1/30 do suy hô hấp); Ngô Văn Hoàng Linh (BV 103), Lê Ngọc Thành (BV Việt Đức), Phạm Hữu Lư, Trần Minh Bảo Luân, Nguyễn Thế Vũ, Vũ Hữu Vĩnh, Nguyễn Văn Khôi, Vũ Anh Hải, Trần Trọng Kiểm, Lê Hải Sơn, Đinh Văn Lượng tiếp tục triển khai kỹ thuật này.
Khoảng trống luận án giải quyết là đánh giá toàn diện khả năng phẫu thuật cắt thùy phổi kết hợp nạo vét hạch hệ thống theo bản đồ giải phẫu qua nội soi lồng ngực ở giai đoạn I–IIA tại Bệnh viện K, xác định tính an toàn, tỷ lệ tai biến, biến chứng và kết quả sống thêm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên các khái niệm can thiệp lồng ngực:
- Nội soi lồng ngực (Thoracoscopy): Thăm dò khoang màng phổi bằng ống soi có kênh can thiệp.
- Phẫu thuật nội soi lồng ngực toàn bộ (Complete thoracoscopic surgery – CTS): Rạch da 2–4 cm cùng 2 lỗ trocar, không dùng banh sườn, thao tác hoàn toàn qua màn hình.
- Phẫu thuật nội soi lồng ngực hỗ trợ (Video-assisted thoracoscopic surgery – VATS): Đường mổ 4–8 cm cùng 2 lỗ trocar, có thể banh nhẹ xương sườn, phối hợp nhìn màn hình và nhìn trực tiếp.
Hệ thống phân chia giai đoạn khối u sử dụng phân loại TNM lần 7 (UICC/AJCC 2009) được xây dựng trên dữ liệu 81.015 bệnh nhân (67.725 ca ung thư phổi không tế bào nhỏ) từ 46 nghiên cứu trên 19 quốc gia, đồng thời đối chiếu với bảng phân loại lần 8 (2017).
| Phân nhóm T/M |
N0 |
N1 |
N2 |
N3 |
| T1a |
Ia |
IIa |
IIIa |
IIIb |
| T1b |
Ia |
IIa |
IIIa |
IIIb |
| T2a |
Ib |
IIa |
IIIa |
IIIb |
| T2b |
IIa |
IIb |
IIIa |
IIIb |
| T3 (>7cm / Xâm lấn / Nốt cùng thùy) |
IIb |
IIIa |
IIIa |
IIIb |
| T4 (Xâm lấn / M1 cùng bên / Tràn dịch màng phổi ác tính) |
IIIa |
IIIa |
IIIb |
IIIb / IV |
| M1 (Đối bên / Xa) |
IV |
IV |
IV |
IV |
Sơ đồ nạo vét hạch dựa trên bản đồ hạch Mountain Clifton F. gồm các trạm hạch trung thất (nhóm 1–9) và hạch rốn phổi/nhu mô (nhóm 10–14):
- Phổi phải: Cần lấy hạch nhóm 2R (trên khí quản phải), 4R (quanh khí quản phải), 7 (dưới carina), 8R (cạnh thực quản), 9R (dây chằng phổi). Cắt thùy trên/giữa vét nhóm 2R, 4R, 7; cắt thùy dưới vét nhóm 7, 8R, 9R.
- Phổi trái: Cần lấy hạch nhóm 2L, 4L, 5 (cửa sổ phế chủ), 6 (trung thất trước), 7, 8L, 9L. Cắt thùy trên vét nhóm 5, 6, 7; cắt thùy dưới vét nhóm 7, 8L, 9L và có thể lấy nhóm 5, 6.
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, tiến cứu kết hợp hồi cứu, can thiệp lâm sàng theo dõi dọc.
- Thu thập dữ liệu: Lâm sàng (triệu chứng cơ năng, toàn thân, chèn ép, cận u), Cận lâm sàng (X-quang ngực, CT đa dãy 64–256 dãy, MRI, PET-CT, nội soi phế quản ống mềm, sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CT, mô bệnh học theo WHO/UICC 1999, giải trình tự gen EGFR, ALK, chất chỉ điểm sinh học CEA, SCC, Cyfra 21-1, Pro-GRP, NSE).
- Kỹ thuật mổ: Gây mê nội khí quản 2 nòng thông khí một phổi, đặt tư thế nằm nghiêng, mở vết mổ nhỏ thao tác và đặt các lỗ trocar, phẫu tích rốn phổi xử lý động mạch, tĩnh mạch, phế quản bằng stapler, nạo vét hạch theo bản đồ.
- Đánh giá hậu phẫu và thống kê: Đo mức độ đau bằng thang điểm VAS, thời gian lưu dẫn lưu, ngày nằm viện, tai biến chu phẫu; xử lý số liệu y sinh học, phân tích thời gian sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không bệnh (PFS) bằng phương pháp Kaplan-Meier và mô hình hồi quy đa biến Cox. Nghiên cứu tuân thủ các quy định về y đức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ:
- Lâm sàng: Triệu chứng nghèo nàn ở giai đoạn sớm (khoảng 15% không có triệu chứng). Triệu chứng cơ năng gồm ho kéo dài (50–75%), ho đờm lẫn máu (15–50%), đau ngực (27–49%), khó thở (39–58%). Các hội chứng xâm lấn/chèn ép xuất hiện muộn hơn (xâm lấn tĩnh mạch chủ trên, hội chứng Pancoast-Tobias chiếm 5%, hội chứng Horner, liệt dây thanh quặt ngược, tràn dịch màng phổi). Hội chứng cận u chiếm khoảng 10–15% (Pierre-Marie, Schwartz-Bartter, giả Cushing, tăng calci máu, Lambert-Eaton).
- Cận lâm sàng:
- X-quang ngực phát hiện u >1 cm, độ nhạy đạt 58,5% với ung thư biểu mô tuyến ngoại vi và 78,6% với các thể khác (tỷ lệ dương tính giả khoảng 5%).
- Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (64–256 dãy) có độ nhạy 94%, độ đặc hiệu 99%, độ chính xác 98%; chẩn đoán kích thước u chính xác 80–96%, đánh giá xâm lấn trung thất đạt 56–89%, đánh giá hạch có độ nhạy 50–75% và độ đặc hiệu 77–90%.
- Chụp MRI có độ nhạy 88% và đặc hiệu 90% cho tổn thương gan, thượng thận; độ nhạy 90% và đặc hiệu 99% đối với di căn não.
- Chụp PET-CT với 18-FDG có độ nhạy 96,7%, phát hiện di căn hạch với độ nhạy 79% và đặc hiệu 91% (cao hơn mức 60% và 77% của CT).
- Thăm dò xâm nhập: Nội soi phế quản ống mềm đạt độ chính xác 95% ở u trung tâm nhưng giảm còn 55–60% ở u ngoại vi; nội soi phế quản ảo kết hợp siêu âm nội soi (EBUS) đạt độ nhạy chẩn đoán hạch trung thất 87%, độ đặc hiệu 100% (Yoshizawa 2012); sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn CT có độ chính xác 96,7% (tỷ lệ tai biến tràn máu/tràn khí khoảng 10%).
- Mô bệnh học và sinh học phân tử: Phân loại theo WHO/UICC (1999) gồm ung thư biểu mô vảy (30–40%), ung thư biểu mô tuyến (25–40%), ung thư biểu mô tế bào lớn (10–15%), ung thư biểu mô tế bào nhỏ (15–20%). Độ biệt hóa (G1–G4) tương quan với tỷ lệ sống thêm 5 năm sau mổ: G1 đạt 40%, G2 đạt 20%, G3 đạt 7%. Đột biến gen EGFR dương tính 50–60% ở thể tuyến/tế bào lớn, đột biến ALK chiếm 5–8%.
- Các phương pháp điều trị:
- Phẫu thuật: Cắt thùy phổi theo giải phẫu kèm nạo vét hạch hệ thống N1, N2 là phương pháp chuẩn cho giai đoạn I, IIA.
- Tai biến, biến chứng: Chảy máu chu phẫu (phải mổ lại chiếm 1,4%), loạn nhịp tim (rung nhĩ 7,26%, rối loạn nhịp thất 0,47%), xẹp phổi (1,4%), viêm phổi (0,9%), xì khí kéo dài >5 ngày, dò phế quản màng phổi (khoảng 0,5%), thở máy >48 giờ (0,47%), mủ màng phổi (0,5–1,5%), tràn dịch dưỡng chấp (0,4%), nhiễm trùng vết mổ nông (3–5%) và sâu (0,5–1,5%), tỷ lệ tử vong chu phẫu chung giảm từ 5–10% xuống 1–2%.
- Hóa trị: Phác đồ chứa Platinum (Cisplatin/Carboplatin) kết hợp Paclitaxel, Docetaxel, Gemcitabine, Pemetrexed, Vinorelbine.
- Xạ trị: Kỹ thuật 3D-CRT, IMRT, SBRT với liều tiền phẫu 40–50 Gy, hậu phẫu 50–60 Gy, triệt căn 65–70 Gy.
- Điều trị đích: Thuốc ức chế Tyrosine Kinase của EGFR (Erlotinib, Gefitinib), ức chế ALK (Crizotinib), kháng thể kháng VEGF (Bevacizumab) và kháng EGFR (Cetuximab).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I đến IIA có chỉ định phẫu thuật nội soi lồng ngực:
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Chẩn đoán mô bệnh học là ung thư phổi không tế bào nhỏ, giai đoạn cTNM I đến IIA, toàn trạng KPS/ASA cho phép phẫu thuật, thông khí một phổi đảm bảo.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Khối u giai đoạn tiến xa (IIIB, IV), chống chỉ định phẫu thuật lồng ngực, tiền sử xạ trị vùng ngực trước đó.
- Chỉ tiêu nghiên cứu: Đặc điểm lâm sàng (triệu chứng, tiền sử hút thuốc, chức năng hô hấp FVC, FEV1, chất chỉ điểm sinh học); đặc điểm khối u và hạch trên CLVT; thông số phẫu thuật (thời gian mổ, chiều dài vết rạch, lượng máu mất, số lượng và kích thước hạch nạo vét theo từng vị trí); các tai biến trong mổ, tỷ lệ chuyển mổ mở; các thông số hậu phẫu (điểm đau VAS, thời gian dẫn lưu màng phổi, biến chứng xì khí, xẹp phổi, nhiễm trùng, ngày nằm viện); đối chiếu giai đoạn bệnh trước và sau mổ; tỷ lệ tái phát, di căn xa và sống thêm (PFS, OS).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Cung cấp số liệu thống kê thu thập từ nhóm bệnh nhân phẫu thuật tại Bệnh viện K:
- Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới tính, thói quen hút thuốc lá và các triệu chứng lâm sàng phát hiện ban đầu.
- Đặc điểm cận lâm sàng: Nồng độ các chất chỉ điểm sinh học ung thư (CEA, Cyfra 21-1...); chức năng thông khí phổi trước mổ; vị trí, kích thước khối u và tình trạng hạch trên chụp cắt lớp vi tính.
- Kết quả phẫu thuật: Phân loại phẫu thuật cắt thùy phổi thực hiện qua nội soi, thời gian phẫu thuật trung bình, chiều dài vết mổ nhỏ, tỷ lệ chuyển mổ mở hoặc chuyển sang nội soi hỗ trợ và lý do chuyển đổi.
- Kết quả nạo vét hạch: Số lượng và kích thước hạch vét được tại các trạm hạch N1 và N2; phân loại giai đoạn bệnh học sau mổ (pTNM) và đánh giá độ chính xác của chụp cắt lớp vi tính so với kết quả sau mổ.
- Tai biến, biến chứng và hậu phẫu: Tỷ lệ tai biến chảy máu trong mổ, tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật; thời gian điều trị giảm đau, điểm đau theo thang điểm VAS, thời gian lưu ống dẫn lưu màng phổi và tổng số ngày nằm viện sau mổ.
- Sống thêm và tái phát: Tỷ lệ tái phát tại chỗ, di căn xa; tỷ lệ sống thêm không bệnh (PFS) và sống thêm toàn bộ (OS); kết quả phân tích mối tương quan giữa thời gian sống thêm với các yếu tố tuổi, tiền sử hút thuốc lá, vị trí u, thể mô bệnh học, giai đoạn bệnh và biến chứng chu phẫu theo mô hình hồi quy Cox.
Chương 4: Bàn luận
Bàn luận các phát hiện nghiên cứu và so sánh với y văn trong nước và quốc tế:
- Đặc điểm nhóm bệnh nhân: Phân tích mối liên quan giữa tuổi, giới tính, tiền sử hút thuốc và phân bố loại mô bệnh học (đặc biệt là tỷ lệ ung thư biểu mô tuyến và vảy); giá trị của các dấu ấn sinh học và thăm dò chức năng hô hấp trước mổ.
- Kỹ thuật phẫu thuật nội soi lồng ngực: So sánh thời gian phẫu thuật, chiều dài vết mổ, tỷ lệ chuyển mổ mở với các tác giả quốc tế (Loscertales, Daniels, McKenna, Yim, Iwasaki...) và các báo cáo trong nước (Văn Tần, Lê Ngọc Thành, Phạm Hữu Lư...); phân tích nguyên nhân chảy máu mạch máu phổi trong mổ và cách kiểm soát qua nội soi hoặc quyết định chuyển mổ mở kịp thời.
- Khả năng nạo vét hạch qua nội soi: Đánh giá số lượng hạch lấy được ở từng vị trí giải phẫu theo sơ đồ Mountain Clifton F., chứng minh phẫu trường nội soi phóng đại giúp bộc lộ rõ rệt cấu trúc rốn phổi và trung thất, hỗ trợ lấy hạch triệt để ở cả chặng N1 và N2; phân tích sự sai biệt giữa chẩn đoán giai đoạn trước mổ (cTNM) và giai đoạn giải phẫu bệnh sau mổ (pTNM).
- Hồi phục sau mổ và biến chứng: Đánh giá mức độ giảm đau sau mổ (điểm VAS), lợi ích của việc không banh sườn kéo giãn khung xương sườn, rút ngắn thời gian dẫn lưu màng phổi và giảm ngày nằm viện.
- Kết quả sống thêm: Đánh giá thời gian sống thêm không bệnh (PFS) và sống thêm toàn bộ (OS), phân tích các yếu tố tiên lượng độc lập (giai đoạn pTNM, tình trạng hạch, độ biệt hóa mô bệnh học) theo mô hình hồi quy đa biến Cox.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về thực tiễn lâm sàng: Luận án cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về quy trình ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi kết hợp nạo vét hạch hệ thống trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I đến IIA tại Bệnh viện K.
- Về kỹ thuật can thiệp: Làm rõ tính khả thi và an toàn của phương pháp nội soi: kiểm soát tốt lượng máu mất và tai biến mạch máu, hạn chế đau sau mổ nhờ vết mổ nhỏ (2–4 cm hoặc 4–8 cm không banh rộng xương sườn), rút ngắn thời gian đặt dẫn lưu màng phổi và thời gian nằm viện hậu phẫu.
- Về mặt ung thư học: Chứng minh khả năng nạo vét hạch hệ thống (cả hạch rốn phổi N1 và hạch trung thất N2 theo các trạm chuẩn 2R, 4R, 7, 8R, 9R bên phải và 5, 6, 7, 8L, 9L bên trái) qua phẫu trường nội soi phóng đại, đảm bảo tính triệt căn ung thư học tương đương mổ mở kinh điển, giúp xác định chính xác giai đoạn bệnh học pTNM sau mổ để định hướng điều trị bổ trợ.
- Kiến nghị: Áp dụng rộng rãi kỹ thuật phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi và nạo vét hạch chuẩn cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm (I–IIA) tại các cơ sở ngoại khoa chuyên khoa ung bướu; tuân thủ quy trình kiểm soát mạch máu và kỹ thuật nạo vét hạch hệ thống theo bản đồ giải phẫu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm chuyên khoa (Khoa Ngoại Lồng ngực - Bệnh viện K), phạm vi chỉ định tập trung vào nhóm bệnh nhân giai đoạn sớm (I đến IIA) có kích thước u và vị trí giải phẫu thuận lợi cho cắt thùy tiêu chuẩn, chưa bao phủ các trường hợp tổn thương phức tạp cần tạo hình phế quản hay mạch máu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi đánh giá thời gian sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh dài hạn (trên 5 năm); nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật cải tiến như phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ (uniportal VATS) hoặc phẫu thuật có robot hỗ trợ (RATS); đánh giá hiệu quả phối hợp đa mô thức giữa phẫu thuật nội soi với các liệu pháp điều trị đích và miễn dịch bổ trợ sau mổ.
Giá trị tham khảo
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và bác sĩ chuyên khoa Ung bướu, Ngoại Lồng ngực: Tài liệu tham khảo về giải phẫu hạch lồng ngực, quy trình phẫu tích cắt thùy phổi giải phẫu và kỹ thuật nạo vét hạch trung thất qua phẫu trường nội soi.
- Phẫu thuật viên lồng ngực lâm sàng: Tham khảo kinh nghiệm kiểm soát các tai biến chu phẫu (đặc biệt là xử trí tổn thương mạch máu phổi), tiêu chuẩn chuyển mổ mở an toàn và quản lý chăm sóc hậu phẫu giảm đau, rút dẫn lưu.
- Các nhà xây dựng hướng dẫn điều trị ngoại khoa ung bướu: Cung cấp dữ liệu thực tiễn tại Việt Nam phục vụ việc chuẩn hóa quy trình chỉ định và kỹ thuật mổ nội soi cho bệnh ung thư phổi giai đoạn sớm.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu chính của luận án là gì?
Luận án thực hiện hai mục tiêu: (1) Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I - IIA tại Bệnh viện K; (2) Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I – IIA tại Bệnh viện K.
2. Tiêu chuẩn chỉ định phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi theo tổng quan của luận án?
Chỉ định chuẩn gồm ung thư phổi giai đoạn I, IIA, IIB (T1-2a, N1) và có thể xem xét IIIA (T1-2a, N2); kích thước khối u nhỏ hơn 5–6 cm nằm ở vùng ngoại biên, không xâm lấn mạch máu lớn, thành ngực, rãnh liên thùy, cơ hoành hay màng ngoài tim; bệnh nhân không xạ trị vùng ngực trước đó và chức năng hô hấp đảm bảo thông khí một phổi tốt trong gây mê.
3. Quy định các nhóm hạch cần nạo vét theo từng bên phổi là gì?
Đối với phổi phải: nạo vét các nhóm hạch 2R (trên khí quản phải), 4R (quanh khí quản phải), 7 (dưới carina), 8R (cạnh thực quản phải), 9R (dây chằng phổi phải). Đối với phổi trái: nạo vét các nhóm hạch 2L, 4L, 5 (cửa sổ phế chủ), 6 (trung thất trước), 7, 8L (cạnh thực quản trái), 9L (dây chằng phổi trái).
4. Phẫu thuật nội soi lồng ngực toàn bộ (CTS) khác gì với phẫu thuật nội soi lồng ngực hỗ trợ (VATS)?
Theo định nghĩa trong luận án, CTS là phẫu thuật thực hiện hoàn toàn qua màn hình video và dụng cụ nội soi chuyên dụng với vết rạch 2–4 cm cùng 2 lỗ trocar, hoàn toàn không dùng dụng cụ banh sườn. VATS là phẫu thuật có vết mổ thao tác 4–8 cm cùng 2 lỗ trocar, có sử dụng dụng cụ banh nhẹ sườn và phẫu thuật viên kết hợp nhìn màn hình với nhìn trực tiếp.
5. Các tai biến và biến chứng chu phẫu chính được tổng quan ghi nhận gồm những gì?
Chảy máu trong mổ do tổn thương mạch máu phổi, chảy máu sau mổ phải phẫu thuật lại (tỷ lệ 1,4%), loạn nhịp tim (rung nhĩ 7,26%, rối loạn nhịp thất 0,47%), xẹp phổi (1,4%), viêm phổi (0,9%), xì khí kéo dài hơn 5 ngày, dò phế quản màng phổi (khoảng 0,5%), thở máy kéo dài hơn 48 giờ (0,47%), mủ màng phổi (0,5–1,5%), tràn dịch dưỡng chấp (0,4%), nhiễm trùng vết mổ nông (3–5%) và sâu (0,5–1,5%), và tỷ lệ tử vong chu phẫu chung dao động từ 1% đến 2%.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Lợi đã hoàn thành việc khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi kết hợp nạo vét hạch hệ thống trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I đến IIA tại Bệnh viện K. Kết quả nghiên cứu xác nhận tính khả thi, mức độ an toàn chu phẫu và giá trị triệt căn ung thư học của kỹ thuật nội soi, đồng thời giúp giảm thiểu sang chấn và rút ngắn thời gian hồi phục hậu phẫu cho bệnh nhân. Công trình là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và thực hành lâm sàng trong lĩnh vực phẫu thuật ung bướu lồng ngực tại Việt Nam.