Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch qua khảo sát lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và lễ hội Tịch Điền (Hà Nam)" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9319042), thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam năm 2018 bởi nghiên cứu sinh Trịnh Lê Anh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Bùi Quang Thắng.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định việc quản lý di sản văn hóa trong mối quan hệ với phát triển du lịch, tiếp cận giá trị di sản dưới góc độ sản phẩm du lịch là một vấn đề mới trong nghiên cứu quản lý văn hóa và du lịch tại Việt Nam. Thực tiễn tồn tại sự xung đột quan điểm: các nhà quản lý văn hóa chủ trương bảo tồn nguyên vẹn để giữ gìn vốn cổ, bản sắc và tính xác thực (authenticity); trong khi các nhà quản lý và doanh nghiệp du lịch lại muốn khai thác, "gia công" di sản thành sản phẩm du lịch phục vụ tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, lợi ích của cộng đồng sở tại nơi có di sản chưa được coi là nền tảng và mục tiêu phát triển. Người dân tại nhiều địa phương ít được hưởng lợi thỏa đáng từ các sản phẩm du lịch khai thác trên vốn di sản của họ, dẫn đến phản ứng thờ ơ, không tích cực tham gia bảo tồn, hoặc nảy sinh tư tưởng cố thủ di sản, thậm chí bị đẩy vào vị thế "làm thuê" cho nhà nước. Nhiều lễ hội sao chép máy móc mô hình của các lễ hội nổi tiếng nhằm tăng lượng khách. Luận án chỉ ra ba cách thức quản lý lễ hội trong thực tiễn: (1) coi lễ hội là cơ hội phát triển kinh tế và kinh doanh du lịch đơn thuần; (2) coi lễ hội là thành lũy bất khả xâm phạm chỉ để bảo tồn khép kín; và (3) tiếp cận lễ hội truyền thống như "vốn văn hóa" phục vụ phát triển địa phương đa diện, xem lễ hội là sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh và sản phẩm du lịch tiềm năng. Luận án lựa chọn tiếp cận và giải quyết vấn đề theo quan điểm thứ ba.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn hiện trạng quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch; trên cơ sở khảo sát thực trạng tại Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và Lễ hội Tịch Điền (Hà Nam), xác định mô hình quản lý phù hợp cho hai lễ hội này và các lễ hội có điều kiện tương đồng.

Luận án đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan lý thuyết, các công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống trong mối quan hệ với phát triển sản phẩm du lịch.
  2. Khảo sát một số trường hợp cụ thể theo quan điểm quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch (lựa chọn Lễ hội Tịch Điền, Hà Nam và Lễ hội Kiếp Bạc, Hải Dương).
  3. Rút ra một số vấn đề lý luận về những khía cạnh hay mô hình quản lý văn hóa trong vấn đề nghiên cứu.

Hệ thống bốn câu hỏi nghiên cứu được xác định:

  1. Nội hàm của quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch?
  2. Dưới góc độ quản lý, lễ hội truyền thống đáp ứng những tiêu chí nào thì có thể coi như sản phẩm du lịch?
  3. Hiện trạng quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch ở hai địa bàn khảo sát (Lễ hội Tịch Điền và Lễ hội Kiếp Bạc) như thế nào?
  4. Những vấn đề đặt ra từ quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch? Mô hình nào cho quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch ở hai lễ hội khảo sát và những lễ hội có điều kiện tương đồng?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch (lý luận và thực tiễn) qua khảo sát Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và Lễ hội Tịch Điền (Hà Nam).
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu toàn diện nội hàm quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch, tập trung vào loại hình lễ hội truyền thống phục dựng và phát triển.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tại xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (Lễ hội Tịch Điền) và xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương (Lễ hội Kiếp Bạc); có mở rộng so sánh với một số lễ hội truyền thống trên toàn quốc.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn sau phục dựng và phát triển (Lễ hội Kiếp Bạc với mốc phát triển năm 2005; Lễ hội Tịch Điền với mốc phục dựng năm 2009). Thực địa khảo sát được tiến hành liên tục từ năm 2013 đến năm 2017 (Kiếp Bạc: 2013-2016; Tịch Điền: 2013-2017). Tầm nhìn áp dụng các đề xuất quản lý được định hướng từ năm 2018 đến trước năm 2030 theo định hướng phát triển của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về lý thuyết quản lý và quản lý lễ hội, di sản:

  • Các lý thuyết quản trị kinh điển phương Tây được kế thừa gồm: thuyết quản lý khoa học của Frederick W. Taylor (1947), nguyên tắc quản lý hành chính của Henri Fayol (1949), lý thuyết phân cấp quyền hạn và quan liêu hợp pháp của Max Weber (1947), mô hình chức năng POSDCORB của Luther Gulick (1937), thuyết quản trị X và Y của Douglas McGregor (1960), lý thuyết tháp nhu cầu tâm lý của Abraham Maslow (1943).
  • Tại Việt Nam, tác giả Bùi Hoài Sơn phân tích ba quan điểm quản lý lễ hội (bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn trên cơ sở kế thừa, và quản lý di sản) cùng 5 giải pháp quản lý di sản lễ hội (tuyên truyền dư luận, hoàn thiện thể chế luật pháp, giám sát kiểm tra, đào tạo nâng cao chuyên môn cán bộ, và tiếp cận đa ngành). Tác giả Từ Thị Loan khái quát 4 mô hình quản lý, tổ chức lễ hội (cộng đồng tự quản; kết hợp cộng đồng tự quản với sự trợ giúp của Nhà nước; Nhà nước can thiệp sâu; và tư nhân điều hành) cùng 5 tiêu chí quản lý chuẩn mực. Các công trình về bản chất hội làng, chức năng lễ hội truyền thống của Nguyễn Chí Bền, Nguyễn Quang Lê, Lê Trung Vũ, Nguyễn Hồng Dương, Đoàn Minh Châu được sử dụng để định vị các giá trị văn hóa và tính nguyên hợp của lễ hội.
  • Tiếp cận tổ chức lễ hội như sự kiện văn hóa của Bùi Quang Thắng (2011) chỉ rõ phương thức bảo tồn - phát triển di sản, đưa nghệ thuật đương đại vào cấu trúc lễ hội và phân tích mong đợi của bốn nhóm công chúng (cộng đồng sở tại, du khách, báo giới, nhà tài trợ).
  • Quan điểm quốc tế: Ho và Bob McKercher (2004) trong công trình Managing Heritage Resources as Tourism Products khảo sát việc quản lý tài nguyên di sản thành sản phẩm du lịch tại Hồng Kông; Jo Caust cảnh báo việc duy trì tính toàn vẹn lễ hội để không làm hỏng "con ngỗng vàng"; Johannes Ruehl khảo sát festival âm nhạc Alpentoene (Thụy Sĩ); Hyung Yu Park bàn về tương lai lễ hội truyền thống; Geoffrey Wall và Monica Iorio nghiên cứu lễ hội thánh Antonio (Mamoiada, Italia); David Harrison phân tích sự kiện lễ hội tại Tây Ban Nha và Fiji; cùng các nguyên tắc đạo đức bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO (2015, 2016).

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về hai địa bàn khảo sát:

  • Lễ hội Tịch Điền (Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam): Nguồn sử liệu thành văn gồm Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (1122) của Nguyễn Công Bật; hồ sơ di tích của Bảo tàng Hà Nam (1992); các nghiên cứu danh thắng, lịch sử của Lương Hiền, Duy Phương, Trần Quốc Vượng, Trần Đăng Ngọc, Phương Thúy; nghiên cứu phục dựng sự kiện của Bùi Quang Thắng; nghiên cứu gắn nghi lễ với du lịch của Bùi Thị Phương Thúy.
  • Lễ hội Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương): Các nghiên cứu khảo sát giá trị lịch sử - văn hóa của Nguyễn Thùy Liên, Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Quang Chắn, hồ sơ khoa học của Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc; nhóm công trình nghiên cứu tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và nghi lễ hầu đồng của Nguyễn Văn Cường, Võ Hoàng Lan, Nguyễn Quang Lê, Phạm Quỳnh Phương, Phùng Bích Sâm; Đề án phát triển du lịch khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc thành khu du lịch quốc gia của UBND tỉnh Hải Dương.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện và lựa chọn giải quyết:

  • Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét lễ hội như một "loại hình du lịch" (du lịch lễ hội, du lịch tâm linh) mà chưa trực tiếp thao tác hóa và định vị lễ hội truyền thống với tư cách là một "sản phẩm du lịch" độc lập, có cấu trúc hoàn chỉnh.
  • Ngành quản lý văn hóa còn e ngại tính thương mại hóa, thiếu các cơ sở lý luận kinh tế học văn hóa để giải thích việc biến "vốn văn hóa" thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội.
  • Thiếu vắng một mô hình quản lý khoa học, cụ thể về sự tham gia của các bên liên quan (nhà nước, cộng đồng cư dân sở tại, doanh nghiệp du lịch, du khách) nhằm kết hợp hài hòa mục tiêu bảo tồn bản sắc và mục tiêu phát triển sản phẩm du lịch tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các hệ thống lý thuyết, khái niệm và khung phân tích chuyên ngành:

  • Khái niệm công cụ: Quản lý, quản lý văn hóa (tiếp cận theo quy trình quản trị gồm: lập kế hoạch, lên chương trình, marketing, gây quỹ, tài trợ, thực hiện và đánh giá); lễ hội truyền thống (sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp mang tính nguyên hợp, gồm hệ thống nghi lễ và hệ thống trò diễn dân gian gắn với cộng đồng làng xã); tài nguyên du lịch (theo Luật Du lịch 2017).
  • Khái niệm sản phẩm du lịch dựa vào lễ hội truyền thống: Hệ thống dịch vụ và giá trị nhận được của khách du lịch gắn liền với trải nghiệm của họ liên quan đến lễ hội. Cấu thành gồm 3 yếu tố (theo UNWTO): (1) Kết cấu hạ tầng du lịch dựa vào lễ hội; (2) Tài nguyên du lịch (lễ hội truyền thống và các yếu tố phụ trợ); (3) Cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý. Mô hình các lớp dịch vụ cấu thành sản phẩm hoàn hảo của UNWTO (do Phạm Trung Lương tổng hợp) gồm: dịch vụ cốt lõi (I), dịch vụ trang sức/bổ trợ (J), dịch vụ sáng tạo/khác biệt (K), và khoảng thời gian tiêu thụ (H). Mô hình ba mức độ sản phẩm của Nguyễn Hồng Giáp (sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hình thức, sản phẩm mở rộng) cùng quan điểm của Middleton & Clarke (2001), Ritchie & Crouch, Trần Văn Thông, Đinh Trung Kiên.
  • Khung lý thuyết quản lý các bên liên quan (Stakeholder Management) phỏng theo Allen, J. để phân tích sự tương tác giữa chính quyền, ban tổ chức, người dân địa phương, doanh nghiệp và du khách.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tiếp cận hệ thống và phương pháp tiếp cận liên ngành: Văn hóa học – Du lịch học, bảo tồn – quản lý – quản trị – kinh doanh.
  • Các phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể gồm: nghiên cứu tài liệu thứ cấp, nghiên cứu điền dã dân tộc học, quan sát tham dự tại các kỳ lễ hội, và phương pháp phỏng vấn sâu làm trọng tâm.
  • Kỹ thuật phỏng vấn sâu: Tác giả áp dụng hình thức phỏng vấn mở thông qua 5 bộ đề cương phỏng vấn riêng biệt dành cho từng nhóm đối tượng, thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại thực địa kết hợp kiểm tra chéo thông tin.

Nguồn dữ liệu điền dã được tổng hợp qua hai bảng phỏng vấn trong giai đoạn 2013 - 2017:

Năm Ban tổ chức lễ hội Chính quyền địa phương Người dân tham gia tổ chức Người dân tham dự lễ hội Du khách tham dự lễ hội Người dân không tham dự lễ hội Người lớn tuổi ở địa phương Đại diện nhà chùa, đền Chuyên gia địa phương Tổng cộng
2013 3 1 6 15 25 8 5 3 3 69
2014 6 2 4 13 30 5 6 2 4 72
2015 6 2 5 17 20 5 6 2 3 66
2016 7 3 4 10 20 5 4 2 5 60
2017 3 2 3 8 15 5 3 1 3 43
Tổng 25 10 22 63 110 28 24 10 18 310

Ghi chú: Bảng tổng hợp số liệu phỏng vấn chung (Bảng 0.1 trong văn bản, quy mô tổng thể 400 lượt).

Bên cạnh đó, luận án tiến hành phỏng vấn sâu 153 lượt đối với các nhóm đối tượng đặc thù trực tiếp tham gia vào cấu trúc vận hành của hai lễ hội:

Năm Họa sỹ vẽ trâu Người dân có trâu tham gia lễ hội Tịch Điền Đạo diễn, thiết kế, dàn dựng sân khấu Người dân diễn Hội quân sông Lục Đầu Đại diện nhóm hầu đồng Nghệ nhân biểu diễn trống Đọi Tam Đơn vị, cá nhân cung ứng sản phẩm, dịch vụ Tổng cộng
2013 5 5 3 5 3 5 10 36
2014 6 4 2 4 3 4 8 31
2015 6 4 2 6 3 3 7 31
2016 5 4 2 4 3 3 9 30
2017 4 3 1 3 5 4 5 25
Tổng 26 20 10 22 17 19 39 153

Ghi chú: Số liệu thống kê theo Bảng 0.2 trong văn bản luận án.

Ngoài ra, luận án tham chiếu khung phân tích mong đợi và biện pháp tác động đối với các nhóm đối tượng của Bùi Quang Thắng (2011):

Nhóm đối tượng Mong đợi Biện pháp tác động
Người dân ở các cộng đồng sở tại - Tính hoành tráng của lễ hội.
- Lợi ích kinh tế, xã hội và văn hóa mà lễ hội đem lại.
- Tuyên truyền chủ trương nâng cấp quy mô tổ chức, phân tích quyền lợi và nghĩa vụ.
- Khẳng định nhân dân là chủ thể lễ hội, tham gia quảng bá cho cộng đồng.
Khách du lịch - Thỏa mãn nhu cầu tâm linh.
- Hiếu kỳ trước cái mới, yếu tố giải trí cao.
- Các hoạt động phụ trợ (mua bán, trò chơi, thưởng thức nghệ thuật).
- Thể chế hóa và nâng tầm trình diễn tín ngưỡng (hầu đồng tại Kiếp Bạc).
- Tích hợp nghệ thuật đương đại (hội vẽ trâu tại Tịch Điền).
- Tổ chức phong phú dịch vụ phụ trợ.
Báo giới - Thông tin mới, độc đáo, khác thường.
- Nội dung phong phú, đa dạng hình thức.
- Tạo điểm nhấn gắn với nghệ sỹ, hoạt động giải trí bên cạnh lễ chính.
- Cung cấp tư liệu, thông tin họp báo minh bạch.
Các nhà tài trợ - Quy mô lớn, thu hút đông đảo công chúng.
- Lợi ích quảng cáo, gia tăng vốn xã hội, cơ hội tiếp cận lãnh đạo địa phương.
- Cung cấp bằng chứng về số lượng người tham gia, mức độ đưa tin của truyền thông.
- Thể hiện tính chuyên nghiệp trong khâu tổ chức và quảng bá.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án được kết cấu thành ba chương nội dung chính, bên cạnh phần Mở đầu (11 trang), Kết luận (2 trang), Danh mục công trình của tác giả (2 trang, 145-146), Tài liệu tham khảo (11 trang, 157-167) và Phụ lục (80 trang):

Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận (50 trang)

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và các khái niệm nền tảng:

  • Phân tích và khu biệt hai cách hiểu về quản lý văn hóa: quản lý hành chính nhà nước ở tầm vĩ mô và quản lý theo phương thức vận hành tác nghiệp (lập kế hoạch, marketing, gây quỹ, tổ chức, kiểm soát).
  • Định vị bản chất lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính phức hợp và thiêng liêng, hướng đến các giá trị: cố kết cộng đồng, hướng về cội nguồn, cân bằng tâm linh, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, trao truyền di sản, giáo dục và giá trị kinh tế.
  • Khảo sát các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động lễ hội tại Việt Nam qua các giai đoạn (từ năm 1945 đến Đổi mới và hiện nay), tiêu biểu là Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT và Nghị định số 11/2006/NĐ-CP.
  • Thao tác hóa khái niệm sản phẩm du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch dựa vào lễ hội truyền thống dựa trên mô hình cấu thành 3 yếu tố của UNWTO và mô hình các lớp dịch vụ (cốt lõi I, bổ trợ J, sáng tạo K, thời gian tiêu thụ H).
  • Xác định khoảng trống trong nghiên cứu lý thuyết: chuyển dịch từ "loại hình du lịch" sang "sản phẩm du lịch", ứng dụng kinh tế học văn hóa để giải tỏa tâm lý e ngại thương mại hóa di sản, và xây dựng mô hình quản lý các bên liên quan.

Chương 2. Quản lý lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương) và lễ hội Tịch Điền (Hà Nam) gắn với phát triển sản phẩm du lịch (43 trang)

Nội dung chương trình bày kết quả điền dã và phân tích thực trạng tại hai địa bàn nghiên cứu:

  • Bối cảnh chung: Đánh giá thực trạng quản lý lễ hội tại Việt Nam trong bối cảnh bùng nổ nhu cầu du lịch văn hóa và tâm linh.
  • Lý do lựa chọn khảo sát hai lễ hội:
    • Lễ hội Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, Hải Dương) đại diện cho loại hình lễ hội truyền thống phát triển (mốc năm 2005), gắn liền với không gian di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc, trung tâm thực hành tín ngưỡng Đức Thánh Trần, có quy mô tổ chức cấp vùng và nghi lễ quân sự sông Lục Đầu đặc thù.
    • Lễ hội Tịch Điền (xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam) đại diện cho loại hình lễ hội truyền thống được phục dựng (mốc năm 2009), gắn với di tích chùa Long Đọi Sơn và bia Sùng Thiện Diên Linh, tôn vinh truyền thống nông nghiệp lúa nước với điểm nhấn đưa nghệ thuật đương đại (hội vẽ tranh trên mình trâu) vào không gian lễ hội.
  • Khảo sát hiện trạng quản lý:
    • Phân tích cơ chế chỉ đạo của Ủy ban nhân dân các cấp, Ban quản lý di tích và Ban tổ chức lễ hội tại hai địa phương.
    • Đánh giá mức độ tham gia và thụ hưởng của người dân sở tại (người phục vụ tế lễ, cầm cờ, rước kiệu, dẫn trâu tại Tịch Điền; đội thuyền diễn xướng Hội quân sông Lục Đầu, các nhóm thanh đồng tại Kiếp Bạc).
    • Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch: lưu trú, ẩm thực, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, các dịch vụ bổ trợ và thương mại xung quanh lễ hội.
    • Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá khả năng khai thác lễ hội truyền thống thành sản phẩm du lịch và áp dụng đánh giá đối với Lễ hội Kiếp Bạc và Lễ hội Tịch Điền.

Chương 3. Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp mang tính ứng dụng (38 trang)

Nội dung chương tổng kết các vấn đề rút ra và đề xuất phương án giải quyết:

  • Nhận diện những vấn đề đặt ra từ góc độ lý thuyết và thực tiễn: xung đột lợi ích giữa các bên liên quan; nguy cơ hành chính hóa làm lu mờ vai trò chủ thể của cộng đồng; hiện tượng thương mại hóa thiếu kiểm soát; năng lực chuyên môn về quản lý du lịch của đội ngũ cán bộ văn hóa còn hạn chế.
  • Đề xuất mô hình quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch dựa trên khung quản trị các bên liên quan: xác lập mối quan hệ tương hỗ và phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa Nhà nước (chính quyền, ban quản lý), Cộng đồng sở tại, Doanh nghiệp du lịch và Du khách.
  • Xây dựng hệ thống nguyên tắc quản lý: tôn trọng tính thiêng và tính nguyên hợp của di sản; bảo đảm quyền làm chủ và sinh kế của cộng đồng địa phương; tích hợp linh hoạt các dịch vụ sáng tạo nhưng không làm sai lệch bản chất văn hóa truyền thống; công khai, minh bạch tài chính.
  • Hệ thống giải pháp quản lý ứng dụng chung: kiện toàn bộ máy tổ chức theo hướng chuyên nghiệp hóa; hoàn thiện quy hoạch không gian lễ hội và dịch vụ phụ trợ; phát triển sản phẩm du lịch hoàn chỉnh theo các lớp cấu thành (cốt lõi, bổ trợ, sáng tạo); đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa - du lịch; đẩy mạnh truyền thông và phân phối sản phẩm.
  • Đề xuất giải pháp chuyên biệt:
    • Đối với Lễ hội Kiếp Bạc: nâng cao chất lượng diễn xướng Hội quân sông Lục Đầu, chuẩn hóa không gian thực hành nghi lễ hầu đồng, kiểm soát các dịch vụ tâm linh biến tướng và tối ưu hóa tuyến kết nối di sản Côn Sơn - Kiếp Bạc.
    • Đối với Lễ hội Tịch Điền: phát huy giá trị biểu tượng của nghi thức xuống đồng, nâng cao chất lượng mỹ thuật của hội vẽ trâu, mở rộng không gian trải nghiệm văn hóa nông nghiệp cho du khách và liên kết chuỗi sản phẩm làng nghề trống Đọi Tam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Khái lược và hệ thống hóa các lý thuyết quản lý, làm rõ nội hàm của việc quản lý lễ hội truyền thống tiếp cận theo hướng phát triển sản phẩm du lịch.
  • Mô hình hóa khung lý thuyết quản lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển sản phẩm du lịch dựa trên lý thuyết quản trị các bên liên quan, chứng minh tính phù hợp của quan điểm kinh tế học văn hóa trong việc kết hợp bảo tồn di sản với phát triển kinh tế du lịch tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Khái quát và đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống tại hai trường hợp khảo sát điển hình ở miền Bắc (Lễ hội Kiếp Bạc và Lễ hội Tịch Điền), chỉ ra những điểm nghẽn về cơ chế phân chia lợi ích, tổ chức dịch vụ và sự tham gia của cộng đồng.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể để đánh giá tiềm năng khai thác lễ hội truyền thống thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.
  • Đề xuất mô hình quản lý và hệ thống giải pháp ứng dụng thiết thực (cho giai đoạn 2018 - 2030), cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan hoạch định chính sách, chính quyền địa phương, ban quản lý di tích và doanh nghiệp lữ hành điều chỉnh mục tiêu và công cụ quản lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, căn cứ theo phạm vi mà văn bản xác định:

  • Địa bàn khảo sát của luận án giới hạn tại hai trường hợp lễ hội thuộc đồng bằng Bắc Bộ (Kiếp Bạc tại Hải Dương và Tịch Điền tại Hà Nam), là các lễ hội truyền thống đã trải qua quá trình phục dựng và phát triển có sự can thiệp lớn của cơ quan quản lý nhà nước, do đó chưa bao quát hết đặc thù của các lễ hội thuần túy do cộng đồng tự quản hoặc lễ hội của các cộng đồng dân tộc thiểu số.
  • Dữ liệu điền dã và khảo sát phỏng vấn sâu được giới hạn trong khung thời gian 5 năm (2013 - 2017).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi kiểm chứng mô hình quản lý các bên liên quan tại các vùng văn hóa khác trên cả nước (vùng núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ) và đối với các loại hình lễ hội khác (lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội văn hóa du lịch).
  • Nghiên cứu định lượng chuyên sâu về tác động kinh tế và đo lường mức độ hài lòng của du khách cũng như cộng đồng cư dân địa phương khi áp dụng các giải pháp quản lý mới.

Giá trị tham khảo

Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và giá trị ứng dụng cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Du lịch học: tham khảo khung phân tích liên ngành, kỹ thuật thiết kế 5 bộ đề cương phỏng vấn sâu đa nhóm đối tượng, và phương pháp luận tiếp cận di sản dưới góc độ kinh tế học văn hóa.
  • Cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch ở cấp trung ương và địa phương: tham khảo bộ tiêu chí đánh giá khả năng khai thác lễ hội thành sản phẩm du lịch, cơ chế phân định trách nhiệm và điều hòa lợi ích giữa các bên liên quan.
  • Ban tổ chức lễ hội, ban quản lý di tích và các doanh nghiệp du lịch lữ hành: tham khảo các giải pháp thiết kế sản phẩm du lịch theo các lớp dịch vụ (cốt lõi, bổ trợ, sáng tạo) và kinh nghiệm tổ chức các hoạt động nghệ thuật đương đại hỗ trợ lễ hội truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định sản phẩm du lịch dựa vào lễ hội truyền thống gồm những yếu tố cấu thành nào?
Dựa trên tiêu chuẩn của UNWTO, luận án xác định sản phẩm du lịch dựa vào lễ hội truyền thống gồm ba yếu tố cấu thành: (1) Kết cấu hạ tầng du lịch dựa vào lễ hội; (2) Tài nguyên du lịch (bản thân lễ hội truyền thống, các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể liên quan); và (3) Cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý du lịch. Về cấu trúc dịch vụ, sản phẩm gồm: dịch vụ cốt lõi (I), dịch vụ trang sức/bổ trợ (J), dịch vụ sáng tạo/khác biệt (K) và khoảng thời gian tiêu thụ (H).

2. Tại sao luận án lựa chọn khảo sát Lễ hội Kiếp Bạc và Lễ hội Tịch Điền?
Hai lễ hội này đại diện tiêu biểu cho xu hướng quản lý xem lễ hội là vốn văn hóa gắn với phát triển du lịch sau giai đoạn đổi mới: Lễ hội Kiếp Bạc là điển hình của lễ hội truyền thống được phát triển, nâng cấp quy mô (từ mốc năm 2005) gắn với tín ngưỡng Đức Thánh Trần và diễn xướng quân sự; Lễ hội Tịch Điền là điển hình của lễ hội truyền thống được phục dựng (từ mốc năm 2009) tôn vinh văn hóa nông nghiệp kết hợp nghệ thuật đương đại (hội vẽ trâu).

3. Phương pháp phỏng vấn sâu trong luận án được triển khai với quy mô mẫu ra sao?
Luận án tiến hành phỏng vấn sâu trực tiếp với hình thức câu hỏi mở qua 5 bộ đề cương trong giai đoạn 2013 - 2017, gồm: bảng khảo sát chung với 400 lượt người (thuộc 9 nhóm: ban tổ chức, chính quyền, người dân tham gia tổ chức, người dân tham dự, du khách, người dân không tham dự, người lớn tuổi, đại diện nhà chùa/đền, chuyên gia) và bảng khảo sát chuyên biệt với 153 lượt người (thuộc 7 nhóm đặc thù: họa sỹ vẽ trâu, người có trâu, đạo diễn sân khấu, người diễn Hội quân, nhóm hầu đồng, nghệ nhân trống, người cung ứng dịch vụ).

4. Luận án nhận diện ba quan điểm quản lý lễ hội truyền thống nào trong thực tiễn?
Ba quan điểm gồm: (1) Coi lễ hội là cơ hội phát triển kinh tế và kinh doanh du lịch đơn thuần nhằm tối đa hóa lợi nhuận; (2) Coi lễ hội là thành lũy bất khả xâm phạm, chỉ tập trung bảo tồn khép kín và từ chối khai thác phát triển; (3) Coi lễ hội là nguồn "vốn văn hóa" quan trọng để phát triển địa phương toàn diện, tiếp cận lễ hội như một sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh và sản phẩm du lịch tiềm năng. Luận án theo đuổi quan điểm thứ ba.

Kết luận

Luận án của tác giả Trịnh Lê Anh đã giải quyết vấn đề kết hợp giữa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế du lịch từ góc độ chuyên ngành Quản lý văn hóa. Thông qua việc phân tích thực chứng tại Lễ hội Kiếp Bạc và Lễ hội Tịch Điền trong giai đoạn 2013 - 2017, tác giả đã làm rõ cấu trúc sản phẩm du lịch dựa vào lễ hội và xây dựng mô hình quản lý dựa trên sự điều phối hài hòa giữa các bên liên quan. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị định hướng cho công tác quản lý lễ hội truyền thống tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển đến năm 2030.