ĐẶT VẤN ĐỀ Thể dục thể thao (TDTT ) là một bộ phận của nền văn hoá xã hội, trong đó thể thao thành tích cao là nhân tố cấu thành nền TDTT xã hội. Mục đích của thể thao thành tích cao là vươn tới những kỷ lục. Quá trình phát triển TDTT song hành cùng sự tiến triển của con người và xã hội. Thể thao thành tích cao là môi trường thể thao chuyên nghiệp mang tính cạnh tranh lớn.
Kỷ lục mà các vận động viên (VĐV) đạt được qua các kỳ thi đấu đỉnh cao (các cuộc thi vô địch thế giới, Olympic v.) gần như đạt tới giới hạn thể chất của con người, vì vậy VĐV cấp cao là những nhân tài của đất nước. Cùng môi trường tập luyện, điều kiện thi đấu nhưng chỉ có những VĐV có thể chất thật tốt mới đạt được thành tích vượt trội. Tính cạnh tranh khốc liệt vì thành tích sẽ đào thải những VĐV không thích hợp với môi trường thể thao thành tích cao, chọn lọc những VĐV với những đặc điểm hình thái, chức năng, thể lực.mang tính nổi trội phù hợp từng môn thể thao. Thể dục dụng cụ (TDDC) là môn thi đấu Olympic.
TDDC cũng là môn thể thao nằm trong hệ thống giáo dục thể chất của nền giáo dục Việt Nam (VN). TDDC có vị trí và vai trò quan trọng rất đặc biệt, nó đảm bảo cho con người sự phát triển toàn diện về mặt thể chất, củng cố và nâng cao sức khoẻ, năng động trong cuộc sống, học tâp và bảo vệ tổ quốc với hiệu quả cao. TDDC có một bề dày về lịch sử phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam. TDDC đỉnh cao vừa mang tính thi đấu và biểu diễn.
Năm 1954 dưới sự giúp đỡ của Trung Quốc và Liên Xô (cũ) TDDC mang tính thi đấu chính thức có mặt ở Việt Nam. Năm 1963 đội tuyển TDDC Việt Nam đã tham dự cuộc thi đấu quốc tế tại Ganefo (Indonexia). Tại cuộc thi này, tuy còn non trẻ song các VĐV Việt Nam đã thi đấu xuất sắc, đạt hạng 3 và 4 cá nhân, huy chương đồng đội nam và nữ, chỉ xếp sau Trung Quốc và Triều Tiên. Trải qua chặng đường phát triển theo sự thăng 2 trầm của đất nước TDDC luôn là lá cờ đầu trong phong trào tập luyện thể thao với các VĐV tên tuổi như: Trần Đức Tài, Nguyễn Đức Lâm, Nguyễn Thị Kiều Khanh, Nguyễn Thị Bích v.v…và đặc biệt VĐV Lê Thuý Liễu vinh dự được biểu diễn cho Bác Hồ xem nhân dịp Bác đến thăm trung tâm huấn luyện quốc gia tại Nhổn.
Trong chiến lược phát triển TDTT VN đã được Thủ tướng ban hành theo quyết định số 2198/QĐTTG. Nội dung quan trọng của quyết định trên là nâng tầm mục tiêu của thể thao Việt Nam trên đấu trường quốc tế, phát triển thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp theo hướng bền vững và phù hợp với tầm vóc, hình thể và trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, con người Việt Nam, nâng cao thành tích thể thao trong các kỳ đại hội thể thao Châu Á, hướng tới giành được huy chương trên đấu trường Olympic. Trong quyết định này TDDC là môn thể thao trọng điểm được ưu tiên đầu tư và phát triển. Đây là một vinh dự , là niềm tự hào, nhưng cũng đầy trọng trách của những người làm công tác đào tạo và huấn luyện (HL) thể thao thành tích cao môn TDDC.
Thành tích vang dội của các VĐV đội tuyển TDDC quốc gia với các tên tuổi hiện nay như Ngân Thương, Hà Thanh, Vân Anh, Thu Huyền, Phước Hưng, Thanh Tùng v.v…đã khẳng định vị thế của môn TDDC Việt Nam trên đấu trường quốc tế, ở những giải thi đấu lớn. Chúng ta có VĐV đạt chuẩn cấp cao thế giới như Phan Thị Hà Thanh, Phạm Phước Hưng đã 2 lần đạt chuẩn tham dự Olympic 2012, 2016 và đã giành được rất nhiều thành tích cao ở các giải thi đấu khác (nổi bật nhất là huy chương vàng (HCV) môn nhẩy chống ở cúp thế giới 2011 của Phan Thị Hà Thanh). Đây là những hình mẫu đại diện của môn TDDC. Tuy nhiên số lượng VĐV cấp cao như Phan Thị Hà Thanh còn quá ít.
Hơn nữa mục tiêu lớn của chúng ta là phải có được tấm huy chương trên đấu trường Olympic. Do đó vấn đề đặt ra là dựa trên các khuôn mẫu điển hình này xác định 3 được mô hình VĐV TDDC nữ cấp cao VN của môn TDDC nói riêng và thể thao VN nói chung. Tác giả Nguyễn Xuân Sinh và cs [28] cho rằng: việc xem xét thành tích thi đấu của những VĐV đoạt vị trí cao trong giải vô địch thế giới và Olympic là mốc phân tích kết quả tổng hợp của các cuộc thi lớn nhất, để có thể xác định chiều hướng phát triển của thể dục, dự đoán thành tích trong thời gian tới. Trên cơ sở những số liệu đó có thể xây dựng “mẫu người tập thể dục tương lai”.
Các ngưỡng thành tích hiện tại có tác dụng quan trọng đến việc chuẩn bị đào tạo VĐV thể dục cấp thấp. Như vậy, có thể xem thành tích của VĐV nổi tiếng thế giới, các bài tập của họ cũng như các chỉ số khác biểu thị trình độ thể lực, trạng thái chức năng, tâm lý…là tiêu chuẩn để xác định mẫu VĐV thể dục Xác định mô hình trình độ VĐV đẳng cấp cao để định hướng trong công tác tuyển chọn, HL đã được nhiều chuyên gia trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu như: Colovieva E. Xác định mô hình VĐV TDDC nữ cấp cao thông qua các thông số về hình thái, chức năng, thể lực, kỹ thuật, tâm lý giúp định hướng công tác tuyển chọn các cấp độ, điều chỉnh kế hoạch HL nhất là với VĐV đang có thành tích là việc làm vô cùng cần thiết. Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề này.
Với những lý do nêu trên, để tránh lãng phí hay bỏ sót nhân tài của đất nước tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu xác định mô hình vận động viên thể dục dụng cụ nữ cấp cao Việt Nam". Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu xác định mô hình VĐV TDDC nữ cấp cao qua các giá trị sinh học về hình thái, thể lực, kỹ thuật, chức năng, tâm lý làm cơ sở khoa học 4 phục vụ công tác tuyển chọn, HL và đào tạoVĐV TDDC nữ cấp cao đạt được thành tích tốt hơn. Để đạt được mục đích nghiên cứu trên luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu 1: Nghiên cứu xác định nội dung mô hình VĐV TDDC nữ cấp cao Việt Nam Mục tiêu cụ thể: 1. Tổng hợp các chỉ số, các test xác định nội dung mô hình VĐV TDDC nữ cấp cao 1.
Phỏng vấn các chuyên gia lựa chọn các test 1. Lựa chọn các chỉ số, các test xác định mô hình VĐV nữ cấp cao. Mục tiêu nghiên cứu 2: Xác định mô hình VĐV TDDC nữ cấp cao VN Mục tiêu cụ thể: 1. Mô hình tổng hợp VĐV TDDC nữ cấp cao Việt Nam.
Giả thuyết khoa học của đề tài Giả thiết khoa học của đề tài là: Xác định được mô hình VĐV TDDC nữ cấp cao VN (về hình thái, chức năng, thể lực, kỹ thuật, tâm lý) giúp cho công tác tuyển chọn đào tạo thể thao thành tích cao hiệu quả hơn, hợp lý hơn. Dựa trên cơ sở đó giúp cho các nhà chuyên môn, các huấn luyện viên (HLV) trong công tác tuyển chọn, HL, đào tạo, dự báo chính xác tiềm năng phát triển thành tích của các VĐV. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái lƣợc về lịch sử phát triển môn TDDC 1.
Lịch sử phát triển môn thể dục và môn TDDC trên thế giới Lịch sử phát triển môn TDDC song hành cùng sự phát triển của loài người từ xa xưa. Ở các quốc gia cổ đại khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập. Các dân tộc da đỏ ở Châu Mỹ, các dân tộc vùng Trung Á sử dụng các bài tập nhào lộn như những phương tiện bổ trợ cho dạy võ và vật. Ở Ấn Độ từ xa xưa đã biết luyện khí công.
Ở Trung Quốc hình thành hệ thống thể dục chữa bệnh. Ở Ai Cập có loại thể dục gắn liền với các nghi lễ của đạo Hồi. Lần đầu tiên thuật ngữ "Thể dục" xuất hiện ở Hy lạp vào thế kỷ VIII trước công nguyên vào giai đoạn hưng thịnh của nền văn hoá cổ Hy Lạp. Thời kỳ này có các trường chuyên để dạy giờ học thể dục gọi là trường thể dục.
Sau Hy Lạp cổ đại người La Mã đã sử dụng rộng rãi các bài tập nhào lộn khác nhau. Ngay từ thời kỳ này đã hình thành những nét đặc trưng của thể dục hiện đại. Như vậy thời kỳ cổ đại các phương tiện của thể dục đã khá phong phú và đa dạng, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Đến giữa thế kỷ XIX đã hình thành ba hệ thống thể dục khác nhau: hệ thống Thể dục Đức (thể dục thể hình hay thể dục lực sỹ) là phương tiện để phát triển các tố chất vận động, gồm nhiều các bài tập thể dục phức tạp, trong đó có các bài tập trên dụng cụ thể dục.
Nhà sư phạm có công sáng lập trường phái Đức là F. Lan (1778-1852) đã khẳng định các bài tập thể dục trên dụng cụ có tác dụng tốt hơn so với các bài tập tay không và với dụng cụ. Hệ thống Thể dục Thuỵ Điển (thể dục vệ sinh) như là phương hướng và phương tiện quan trọng để củng cố sức khoẻ và phát triển năng lực thể chất của con người. Phương pháp tập luyện của trường phái Thể dục Thuỵ Điển dựa trên cơ sở dấu hiệu về mặt giải phẫu học và hình thái học, có nghĩa các bài tập được 6 soạn thảo để phát triển từng bộ phận riêng biệt của cơ thể, ví dụ các nhóm cơ riêng biệt: tay, chân, lưng, bụng.
Trường phái Thể dục Pháp là Thể dục thực dụng, là phương tiện để dạy người người lính biết khắc phục các chướng ngại vật khác nhau, thường gặp trong chiến đấu. Theo các tác giả Gaverdovxki IU.[54]; Nguyễn Xuân Sinh và cs [27]: vào những năm 60 của thế kỷ XIX ở Châu âu còn hình thành một hệ thống thể dục có tầm quan trọng và mang ý nghĩa giáo dục xã hội và phát triển nền thể dục thao thế giới là hệ thống Thể dục "Chim ưng" của Tiệp Khắc.