Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Ngân hàng Đông Dương trong quá trình thực dân hóa của Pháp ở Việt Nam (1875 - 1954)" do nghiên cứu sinh Dương Tô Quốc Thái thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hà Minh Hồng, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13), bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình xâm lược và bình định Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp đối mặt với tình trạng thiếu hụt tài chính nghiêm trọng. Sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương ngày 21/01/1875 tại Paris đã tạo ra công cụ tài chính hỗ trợ bộ máy thống trị. Luận án chỉ ra ba khoảng trống nghiên cứu lớn mà các công trình đi trước chưa giải quyết toàn diện:

  1. Hoạt động tài trợ tài chính của Ngân hàng Đông Dương cho quân viễn chinh Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1883 - 1884) và các chiến dịch bình định phong trào kháng chiến tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ (1885 - 1896) còn bị bỏ ngỏ.
  2. Vai trò của Ngân hàng Đông Dương trong hai đợt khai thác thuộc địa (1897 - 1945), đặc biệt là sự chi phối đối với các công ty vô danh, hệ thống đồn điền, hầm mỏ, cơ sở hạ tầng và việc xử lý khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 chưa được khảo cứu hệ thống.
  3. Hoạt động của Ngân hàng Đông Dương trong giai đoạn thực dân Pháp tái xâm lược Việt Nam (1945 - 1954) chưa được làm sáng tỏ, cụ thể là các hành vi chuyển ngân thoái vốn về chính quốc, buôn lậu vàng, đầu cơ tỷ giá hối đoái, chèn ép Ngân khố Liên bang và quá trình chuyển giao quyền phát hành cho Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Khôi phục lại bức tranh hoạt động của Ngân hàng Đông Dương trong quá trình thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, nhất là giai đoạn đánh chiếm Bắc Kỳ, Trung Kỳ (1883 - 1884) và bình định phong trào kháng chiến (1885 - 1896).
  2. Phục dựng lịch sử hoạt động của Ngân hàng Đông Dương trong quá trình thực dân Pháp khai thác thuộc địa (1897 - 1945) và giai đoạn tái xâm lược Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1954.
  3. Cung cấp hệ thống tư liệu và luận điểm khoa học về tài chính, tín dụng, tiền tệ, thuế khóa, ngân hàng thời Pháp thuộc; đúc kết các vấn đề có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và bài học kinh nghiệm trong 80 năm tồn tại của Ngân hàng Đông Dương để phục vụ nghiên cứu ngành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Quá trình Ngân hàng Đông Dương ra đời, tham gia công cuộc xâm lược và bình định thực dân (1875 - 1896); thúc đẩy công cuộc khai thác thuộc địa (1897 - 1945); và hoạt động trong thời kỳ tái xâm lược (1945 - 1954).
    • Vai trò và ảnh hưởng của Ngân hàng Đông Dương trên các lĩnh vực tiền tệ, tài chính, tín dụng trong 80 năm cai trị của thực dân Pháp tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam thời Pháp thuộc, bao gồm ba xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1875 (thành lập chi nhánh đầu tiên tại Sài Gòn) đến năm 1954 (thực dân Pháp thất bại sau trận Điện Biên Phủ, ký Hiệp định Genève và Ngân hàng Đông Dương chấm dứt hoạt động tại Việt Nam).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế:

1. Các nhóm công trình nghiên cứu trong nước

  • Nhóm nghiên cứu lý luận chung về ngân hàng và tài chính:
    • Lê Đình Chân với các công trình Tài chính công trọng bộ, Tài chính công - Những nguyên tắc căn bản của Luật ngân sách, Tài chính công - Công phí - Thuế, Ngân khố, Tài chính công toàn tập (1973).
    • Phan Thị Cúc (Tín dụng ngân hàng), Nguyễn Trí Dĩnh và Phạm Thị Quý (Giáo trình lịch sử kinh tế), Nguyễn Văn Tiến (Tài chính Quốc tế), Dương Thị Bình Minh và Sử Đình Thành (Lý thuyết Tài chính Tiền tệ).
    • Các văn bản quy phạm pháp luật: Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Nghị định 40/2012/NĐ-CP, Thông tư 37/2014/TT-NHNN, Thông tư 38/2018/TT-NHNN.
  • Nhóm nghiên cứu tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ Việt Nam (1862 - 1954):
    • Nguyễn Thế Anh (Việt Nam thời Pháp đô hộ, 2008), Cao Văn Biền (Công nghiệp Than Việt Nam thời kỳ 1888-1945, 1998), Vũ Huy Phúc (Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858-1945, 1996), Tạ Thị Thúy (Công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, 2018), Hồ Công Lưu (Đồn điền ở đồng bằng Bắc Kỳ từ năm 1884 đến năm 1945, 2017).
    • Nguyễn Thị Thanh Tùng (2017), Nguyễn Thị Định (2017), Trần Minh Thuận (2018), Nguyễn Phan Quang (Thị trường lúa gạo Nam Kỳ 1860-1945, 2004), Hoàng Thị Thu Hiền (2011), Lê Quốc Sử (1998), Nguyễn Đức Hiệp (2017), Hồ Tuấn Dung (Chế độ Thuế của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ từ 1897 đến 1945, 2003).
    • Nguyễn Anh Tuấn (Chính sách Tiền tệ Việt Nam - từ thời kỳ Pháp thuộc đến Đệ nhị Cộng hòa, 1968), Phạm Thăng (Tiền tệ Việt Nam theo dòng lịch sử, 1995), Bộ Tài chính (Tài chính Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, 60 năm tài chính Việt Nam 1945-2005), Trần Dương và Phạm Thọ (Lưu thông Tiền tệ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 1960).
    • Các bài báo chuyên khảo của Linh Quang, Ngô Văn Hòa, Phan Gia Bền, Nguyễn Ngọc Cơ, Hoàng Hải Hà, Lương Hữu Định, Nguyễn Khắc Đạm, Hà Minh Hồng và Dương Tô Quốc Thái (nghiên cứu năm 1882 - 1883), Nguyễn Văn Trường.
  • Nhóm nghiên cứu trực tiếp về Ngân hàng Đông Dương:
    • Phạm Quang Trung (Lịch sử Tín dụng nông nghiệp Việt Nam (1875-1945), 1997): Đánh giá tính chất đặc thù của Ngân hàng Đông Dương như một định chế bao trùm nhiều thuộc địa Viễn Đông.
    • Tổ nghiên cứu lịch sử ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Lịch sử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1951-1976), sơ thảo tập 1, 1976): Phân tích thủ đoạn bóc lột, độc quyền phát hành và chèn ép Ngân khố Đông Dương.
    • Lê Đình Chân (Lịch sử Tiền tệ nước nhà, 1972): Khảo cứu các mảng phát hành giấy bạc, tín dụng ngắn hạn, hạn chế của tín dụng nông nghiệp.
    • Trần Dương và Phạm Thọ (1960): Đưa ra số liệu về việc tăng vốn điều lệ của Ngân hàng Đông Dương từ 157 triệu Francs lên 2 tỷ Francs, tiền lãi tăng từ 49 triệu Francs (1946) lên 638 triệu Francs (1954).
    • Phan Hạ Uyên (Lịch sử Tiền tệ Đông Dương và Ngân hàng Đông Dương từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, 1973): Khai thác tài liệu nội bộ về cơ cấu mạng lưới, vốn điều lệ, nghiệp vụ thương mại và các hoạt động kinh doanh phi pháp.
    • Đỗ Thị Mỹ Hiền (Luận án Tiến sĩ, 2017): Nghiên cứu giai đoạn 1875 - 1945 về phát hành tiền, tín dụng mùa vụ, đầu tư công nghiệp và giao thông.
    • Viện Kinh tế (Kinh tế Việt Nam từ cách mạng tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954), 1966): Nêu các thủ đoạn tài chính của Pháp sau 1945 như đình chỉ lưu hành giấy bạc 500 đồng in thời Nhật, ép đổi bạc với giá trị 70%.
    • Các nghiên cứu của Đặng Phong, Phạm Thị Hồng Hà, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Đình Tư, Nguyễn Xuân Thọ, Cao Huy Thuần, Trương Bá Cần.

2. Các nhóm công trình nghiên cứu nước ngoài

  • Về bối cảnh kinh tế - tài chính thuộc địa:
    • Philippe Devillers (Français et Annamites: Partenaires ou Ennemis, 1856-1902, bản dịch 2006).
    • Paul Doumer (L’Indo-Chine française, 1905, bản dịch 2015): Trình bày các chương trình huy động vốn trên thị trường chứng khoán Paris để xây dựng hạ tầng Đông Dương.
    • Jules Silvestre (bản dịch 2020), Hocquard (bản dịch 2020), H. Simoni (Le rôle du capital dans la mise en valeur de l’Indochine, 1929).
    • Hubert Bonin, Robert Elie, Loye, Détieux Marcel, André Touzet (L’Emprunt National de 1918 en Indochine), Henri Guermeur (Le Régime fiscal de L’Indochine), Section d'Administration Générale Direction des Finances (Histoire budgétaire de l’Indochine).
    • Mervyn King (2019), Niall Ferguson (2020), Niall Kishtainy (2020), Thomas R. Ittelson (2018), N. Gregory Mankiw (2019), Center For Financial Training (2019), Roger E. A Farmer (2020).
  • Về Ngân hàng Đông Dương:
    • Henri Baudoin (La Banque de l’Indochine, 1903): Khảo cứu giai đoạn thành lập từ 1875 đến 1900.
    • Albert Sabés (Le Renouvellement du privilège de la banque de l’Indochine, 1931): Phân tích công ước gia hạn đặc quyền ngày 22/11/1929 của Quốc hội Pháp.
    • Paul Bernard (Le problème économique Indochinois, 1934): Khảo sát tác động của khủng hoảng 1929 - 1933 đến hệ thống tài chính và ngân sách thuộc địa.
    • Marc Meuleau (Des Pionniers en Extrême-Orient: Histoire de la Banque de l’Indochine (1875-1975), 1990): Sử dụng khối tài liệu lưu trữ của Ngân hàng Indosuez (Crédit Agricole Corporate and Investment Bank).
    • Jean Pierre Aumiphin (La Présence Financière et Economique Française en Indochine (1859-1939), bản dịch 1994): Phân tích vai trò phát hành và mức độ chi phối nền kinh tế của tư bản tài chính Pháp.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu trên và tập trung làm sáng tỏ:

  1. Hoạt động tài trợ quân sự của Ngân hàng Đông Dương trong giai đoạn mở rộng xâm lược Bắc Kỳ và bình định Trung Kỳ (1883 - 1896).
  2. Mạng lưới đầu tư và phương thức chi phối của Ngân hàng Đông Dương đối với quá trình khai thác thuộc địa (1897 - 1945).
  3. Bản chất các hoạt động của Ngân hàng Đông Dương trong giai đoạn tái xâm lược (1945 - 1954), sự cấu kết với giới tài phiệt hiếu chiến, các phi vụ hối đoái, buôn lậu vàng, chuyển dịch tài sản về Pháp và vai trò thực tế của Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm cốt lõi

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa đế quốc và tư bản tài chính, kết hợp các khái niệm chuyên ngành lịch sử, kinh tế, ngân hàng:

  • Thực dân hóa: Quá trình các nước thực dân phương Tây xâm chiếm các quốc gia nhỏ yếu làm thuộc địa, khai thác tài nguyên, khoáng sản, bóc lột nhân công, và tiến hành chiến tranh tái chiếm khi các thuộc địa giành độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
  • Tư bản tài chính và Giới tư bản tài chính Paris: Sự kết hợp giữa tư bản ngân hàng độc quyền và tư bản công nghiệp (theo định nghĩa của V.I. Lênin), nắm giữ cổ phần chéo, chi phối các chức vụ quản trị, lũng đoạn thị trường và định đoạt giá cả tại chính quốc lẫn thuộc địa.
  • Giới hiếu chiến: Nhóm tài phiệt lớn tại Paris liên minh với cựu quan chức thuộc địa và giới chính khách nội các Đệ Tứ Cộng hòa Pháp, có quyền lợi gắn liền với đồn điền, hầm mỏ, thúc đẩy duy trì chiến tranh xâm lược Đông Dương giai đoạn 1945 - 1954.
  • Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine): Tổ chức tài chính thành lập ngày 21/01/1875 tại Paris, nắm giữ ba đặc quyền: phát hành giấy bạc, kinh doanh thương mại và đầu tư tài chính.
  • Đồng bạc Đông Dương (ký hiệu "P"): Đơn vị tiền tệ chính thức tại thuộc địa Đông Dương, bao gồm tiền giấy (do Ngân hàng Đông Dương độc quyền phát hành) và tiền kim loại (do Sở đúc tiền Paris và Sở đúc tiền Đông Dương đúc). Đồng bạc Đông Dương trải qua ba thời kỳ bản vị tiền tệ:
Thời kỳ Giai đoạn áp dụng Căn cứ pháp lý Quy chuẩn bản vị tiền tệ
Thời kỳ thứ nhất 1875 đến trước 31/05/1930 Quy chế thành lập Ngân hàng Đông Dương Ngân bản vị: $1\text{ P} = 27{,}215\text{ gram bạc}$ (chuẩn độ 900/1000).
Thời kỳ thứ hai 31/05/1930 đến trước 02/10/1936 Sắc lệnh ngày 31/05/1930 Kim bản vị: $1\text{ P} = 655\text{ miligram vàng}$ (thanh sắc 900/1000).
Thời kỳ thứ ba 02/10/1936 đến năm 1954 Sắc lệnh ngày 02/10/1936 Bản vị Franc Pháp: Cố định $1\text{ P} = 10\text{ Francs (₣)}$, biến động theo đồng Franc Pháp.
  • Đồng Franc Pháp (ký hiệu "₣"): Đơn vị tiền tệ chính quốc trải qua 3 giai đoạn: Franc Germinal (trước 25/06/1928: $1\text{ ₣} = 322\text{ mg vàng}$ chuẩn độ 9/10); Franc Poincaré (25/06/1928 đến trước 01/10/1936: $1\text{ ₣} = 65{,}5\text{ mg vàng}$ chuẩn độ 9/10); Franc Auriol (từ 01/10/1936: $1\text{ ₣} = 43\text{ đến }49\text{ mg vàng}$).
  • Viện Phát hành tiền tệ các Quốc gia Liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia (Institut d’Émission des États du Cambodge, du Laos et du Vietnam): Cơ quan thành lập theo các hiệp ước năm 1949, hoạt động từ năm 1952, trụ sở chính tại Phnom Penh, chi nhánh tại Paris, Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Hội đồng quản trị gồm 12 thành viên (6 đại diện Pháp, 2 Việt Nam, 2 Lào, 2 Campuchia), thực chất duy trì quyền kiểm soát tiền tệ của Pháp.
  • Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu, thương phiếu: Hoạt động mua lại các chứng từ nợ có kỳ hạn (30, 60, 90, 120 ngày) trước hạn thanh toán; chiếm từ 12% đến 14% tỷ trọng nghiệp vụ của Ngân hàng Đông Dương (đứng sau nghiệp vụ hối đoái).
  • Tỷ giá hối đoái và Viện Hối đoái Đông Dương: Cơ quan điều tiết tỷ giá giữa đồng bạc Đông Dương và các ngoại tệ; Ngân hàng Đông Dương thực hiện từ 80% đến 86% tổng khối lượng giao dịch hối đoái.
  • Công ty vô danh (Société Anonyme): Mô hình công ty cổ phần của Pháp được niêm yết trên thị trường chứng khoán, phân tán rủi ro cho cổ đông, tiêu biểu như Công ty mỏ than Bắc Kỳ, Công ty cao su Đông Dương, Công ty đường sắt Đông Dương.
  • Công thải (Emprunt): Hình thức chính quyền phát hành trái phiếu nhà nước để huy động vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng và giới tư sản phục vụ xây dựng hạ tầng thuộc địa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp hai phương pháp chuyên ngành lịch sử và các phương pháp liên ngành:

  1. Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình ra đời, phát triển, chuyển đổi nghiệp vụ và kết thúc vai trò của Ngân hàng Đông Dương theo đúng trình tự thời gian và bối cảnh cụ thể từ 1875 đến 1954.
  2. Phương pháp lôgic: Phân tích, tổng hợp, loại bỏ các chi tiết ngẫu nhiên để xác định quy luật vận động, bản chất liên minh tư bản tài chính và bộ máy thực dân.
  3. Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp so sánh, đối chiếu văn bản pháp quy; phương pháp sưu tầm, thống kê và phân tích định lượng dữ liệu tài chính, biểu bảng, tỷ giá và lưu thông tiền tệ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tài liệu lưu trữ:
    • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh): Phông Thống đốc Nam Kỳ (Fonds du Gouverneur de la Cochinchine), Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam, Phông các địa phương, hệ thống Công báo (Journal Officiel).
    • Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh: Các ấn phẩm lưu trữ tại Phòng Hạn chế đọc.
    • Thư khố của các tổ chức tài chính Pháp (tài liệu Ngân hàng Indosuez lưu trữ tại Crédit Agricole Corporate and Investment Bank thông qua khảo cứu của Marc Meuleau).
  • Tài liệu xuất bản và báo chí: Sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế; tạp chí, báo chí thời kỳ Pháp thuộc và giai đoạn kháng chiến 1945 - 1954; hồi ký, tiểu sử của các nhân vật lịch sử (Paul Doumer, Hocquard, Jules Silvestre).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và làm rõ cơ sở học thuật của đề tài qua 4 nội dung:

  1. Xác lập hệ thống khái niệm chuyên môn: Thực dân hóa, Ngân hàng Đông Dương, Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam, Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết, Giới tư bản tài chính, Giới hiếu chiến, Đồng bạc Đông Dương, Đồng Franc Pháp, Chiết khấu hối phiếu, Tỷ giá hối đoái, Ngân hàng thương mại, Tín dụng, Công ty vô danh, Công thải.
  2. Tổng thuật các nhóm công trình trong nước: Phân tích các nghiên cứu lý luận ngân hàng (Lê Đình Chân, Phan Thị Cúc, các văn bản luật NHNN); nhóm nghiên cứu lịch sử kinh tế - tài chính (Nguyễn Thế Anh, Cao Văn Biền, Tạ Thị Thúy, Hồ Tuấn Dung); nhóm nghiên cứu chuyên sâu về Ngân hàng Đông Dương (Phạm Quang Trung, Tổ nghiên cứu NHNN, Phan Hạ Uyên, Đỗ Thị Mỹ Hiền).
  3. Đánh giá các công trình nghiên cứu nước ngoài: Khảo sát các công trình của Paul Doumer, Jules Silvestre, Hocquard, H. Simoni, Henri Baudoin, Albert Sabés, Paul Bernard, Marc Meuleau, Jean Pierre Aumiphin.
  4. Đúc kết kết quả kế thừa và xác định 3 vấn đề tiếp tục giải quyết: Tài trợ đánh chiếm Bắc Kỳ và bình định (1883 - 1896); vai trò trong khai thác thuộc địa (1897 - 1945); và các hoạt động trong giai đoạn tái xâm lược (1945 - 1954).

Chương 2: Ngân hàng Đông Dương ra đời trong công cuộc xâm lược và bình định của thực dân Pháp ở Việt Nam giai đoạn 1875 - 1896

Chương 2 phân tích sự hình thành và can dự trực tiếp của Ngân hàng Đông Dương vào chiến tranh:

  • Sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương: Thành lập ngày 21/01/1875 tại Paris bởi các tập đoàn tài phiệt Pháp, mở chi nhánh đầu tiên tại Sài Gòn (1875) và Pondichéry (Ấn Độ thuộc Pháp). Ngân hàng được Chính phủ Pháp trao đặc quyền phát hành giấy bạc thời hạn 20 năm, đặc quyền cho vay tín dụng thương mại và đặc quyền đầu tư tài chính.
  • Cơ cấu tổ chức ban đầu: Hội đồng quản trị tại Paris cấp vốn cho các chi nhánh; mỗi chi nhánh gồm 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc, 1 Kế toán viên và các nhân viên giao dịch. Lợi nhuận chi nhánh được phân phối theo tỷ lệ: nộp 1/4 về Paris (mỗi 6 tháng), 3/4 giữ lại (trong đó 2/4 chia cho nhân viên chi nhánh, 1/4 nhập quỹ dự phòng).
  • Tài trợ tài chính cho chiến tranh xâm lược: Nhằm mở rộng địa bàn hoạt động vượt khỏi phạm vi Nam Kỳ và Pondichéry, Ngân hàng Đông Dương đã cung cấp tín dụng trực tiếp cho quân viễn chinh Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ (1883 - 1884) và hỗ trợ tài chính cho các chiến dịch bình định phong trào khởi nghĩa vũ trang ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ (1885 - 1896).
  • Mở rộng mạng lưới chi nhánh: Nhờ tài trợ chiến tranh, ngân hàng được Chính phủ Pháp cấp phép mở thêm các chi nhánh chiến lược: Hải Phòng (1885), Hà Nội (1886) và Đà Nẵng (1891), từng bước kiểm soát huyết mạch kinh tế của cả ba xứ.
Chi nhánh tại Việt Nam Năm thành lập Vai trò / Địa bàn phụ trách
Sài Gòn 1875 Chi nhánh đầu tiên, trung tâm thanh toán xuất khẩu lúa gạo Nam Kỳ
Hải Phòng 1885 Cửa ngõ ngoại thương và trung chuyển tài chính Bắc Kỳ
Hà Nội 1886 Trung tâm chính trị, tài chính và liên lạc công quyền Bắc Kỳ
Đà Nẵng 1891 Trung tâm thương mại và dịch vụ tài chính Trung Kỳ
Nam Định 1926 Khu vực công nghiệp dệt và nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Cần Thơ 1926 Trung tâm nông nghiệp, tín dụng lúa gạo miền Tây Nam Kỳ
Vinh 1927 Vùng công nghiệp gỗ, diêm và phụ cận Bắc Trung Kỳ
Quy Nhơn 1928 Khu vực cảng biển và nông nghiệp Nam Trung Kỳ
Huế 1929 Kinh đô triều đình nhà Nguyễn, trung tâm hành chính Trung Kỳ
Đà Lạt 1943 Trung tâm nghỉ dưỡng và hành chính cao nguyên

Chương 3: Ngân hàng Đông Dương thúc đẩy cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam giai đoạn 1897 - 1945

Chương 3 trình bày vai trò của Ngân hàng Đông Dương qua 5 thời kỳ phát triển kinh tế thuộc địa:

  1. Giai đoạn 1897 - 1914: Phối hợp với chương trình khai thác thuộc địa của Toàn quyền Paul Doumer, tham gia phát hành công trái (khởi đầu từ năm 1896), tài trợ vốn xây dựng mạng lưới đường sắt Đông Dương và hệ thống giao thông công chính.
  2. Giai đoạn 1914 - 1918: Huy động vốn, phát hành tiền giấy phục vụ nhu cầu tài chính của Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và bảo đảm nguồn quỹ kim khí lưu thông.
  3. Giai đoạn 1919 - 1929: Tham gia cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai; mở rộng mạng lưới chi nhánh tại Nam Định (1926), Cần Thơ (1926), Vinh (1927), Quy Nhơn (1928), Huế (1929); cung ứng tín dụng cho các đồn điền cao su, cà phê, chè và công ty khai mỏ than Bắc Kỳ; thực hiện mức lãi suất cho vay từ 8% đến 12%/năm (cao hơn mức trần 6%/năm tại chính quốc Pháp).
  4. Giai đoạn 1929 - 1939: Đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933); chuyển đổi chế độ bản vị tiền tệ từ Ngân bản vị sang Kim bản vị (Sắc lệnh 31/05/1930: $1\text{ P} = 655\text{ mg vàng}$), sau đó gắn chặt với đồng Franc Pháp (Sắc lệnh 02/10/1936: $1\text{ P} = 10\text{ ₣}$); can thiệp tái cơ cấu nợ và thu hồi vốn qua hệ thống tổ chức tín dụng nông nghiệp (Crédit Populaire Agricole - CPA) giai đoạn 1931 - 1944.
  5. Giai đoạn 1940 - 1945: Mở thêm chi nhánh Đà Lạt (1943); điều hành lưu thông tiền tệ dưới ách thống trị kép của thực dân Pháp và phát xít Nhật; kiểm soát lạm phát và phát hành lượng tiền giấy gia tăng đột biến phục vụ chi phí chiến tranh.

Chương 4: Ngân hàng Đông Dương trong thời kỳ thực dân Pháp tái xâm lược Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954

Chương 4 làm rõ sự biến đổi chức năng và hành vi của Ngân hàng Đông Dương trong 9 năm chiến tranh tái chiếm:

  • Hoàn cảnh mới và sự liên minh tài chính - quân sự: Sự cấu kết giữa giới tư bản tài chính trong Ngân hàng Đông Dương và giới hiếu chiến thuộc nền Đệ Tứ Cộng hòa Pháp nhằm bảo vệ quyền lợi đồn điền, hầm mỏ, kéo dài chiến tranh và tăng mức độ lệ thuộc vào viện trợ Mỹ (giai đoạn 1950 - 1954).
  • Phá hoại tài chính và gây sức ép tiền tệ: Ngày 17/11/1945, Cao ủy d’Argenlieu tuyên bố đình chỉ giá trị toàn bộ giấy bạc 500 đồng in tại nhà in Viễn Đông trong thời kỳ Nhật chiếm đóng (09/03/1945 - 23/09/1945); buộc dân chúng đổi tiền giấy 500 đồng phát hành trước ngày 09/03/1945 trong 7 ngày (19 - 25/11/1945) với mức khấu trừ 30% (chỉ nhận 70% giá trị); sử dụng vũ lực trấn áp các cuộc biểu tình đòi đổi tiền trước trụ sở ngân hàng ngày 26/11/1946; phát hành tiền 100 đồng in tại Calcutta nhằm làm rối loạn kiểm soát tiền tệ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • Hoạt động kinh doanh phi pháp và hỗ trợ quân sự: Đầu cơ tỷ giá hối đoái, chèn ép Ngân khố Liên bang Đông Dương, tham gia các đường dây buôn lậu vàng, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu gian lận nhằm thu lợi nhuận. Vốn điều lệ ngân hàng tăng từ 157 triệu Francs lên 2 tỷ Francs; lợi nhuận ròng tăng từ 49 triệu Francs (1946) lên 638 triệu Francs (1954), gấp 13 lần.
  • Hỗ trợ thoái vốn và chuyển ngân: Tổ chức chuyển ngân các khoản tiết kiệm của công chức Pháp và hỗ trợ các công ty Pháp rút vốn an toàn về chính quốc.
  • Chuyển giao quyền phát hành và chấm dứt vai trò: Từ bỏ đặc quyền phát hành để hỗ trợ thành lập Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia (hoạt động 1952 - 1954). Sau thất bại Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève năm 1954, toàn bộ hệ thống chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam chính thức chấm dứt hoạt động, quyền phát hành tiền tệ được chuyển giao cho các ngân hàng quốc gia độc lập của ba nước Đông Dương.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận:
    • Làm rõ bản chất của quá trình thực dân hóa tại Việt Nam là sự tích hợp của ba giai đoạn: xâm chiếm thuộc địa, khai thác thuộc địa và tái chiếm thuộc địa.
    • Khẳng định vai trò chi phối của tư bản tài chính Paris nói chung và Ngân hàng Đông Dương nói riêng như một trụ cột kinh tế - chính trị đồng hành cùng bộ máy quân sự và hành chính thực dân.
  2. Về mặt thực tiễn và tư liệu:
    • Phục dựng bức tranh lịch sử 80 năm (1875 - 1954) của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam với hệ thống số liệu về mạng lưới chi nhánh, cơ cấu nhân sự, tỷ lệ phân chia lợi nhuận, mức lãi suất tín dụng và các thời kỳ điều chỉnh bản vị tiền tệ.
    • Bổ sung nguồn sử liệu từ các phông lưu trữ quốc gia và tư liệu nước ngoài về hoạt động tài trợ chiến tranh (1883 - 1896) và các nghiệp vụ tài chính trong giai đoạn 1945 - 1954 (buôn lậu vàng, hối đoái ngầm, chuyển ngân thoái vốn).
  3. Ý nghĩa tham khảo:
    • Cung cấp luận cứ khoa học về quản lý tiền tệ, kiểm soát tỷ giá, điều hành dự trữ kim khí và tổ chức hệ thống tín dụng phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử kinh tế và quản lý ngân hàng hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tư liệu và phạm vi đề tài, luận án tập trung khảo sát mạng lưới Ngân hàng Đông Dương trên lãnh thổ Việt Nam; các hoạt động tại Pondichéry (Ấn Độ), Trung Quốc và các vùng lãnh thổ thuộc Pháp ở Thái Bình Dương chỉ được đề cập ở mức độ đối chiếu. Khối tư liệu lưu trữ của Ngân hàng Indosuez tại Paris chủ yếu được tiếp cận qua các công trình kế thừa đã công bố.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khai thác trực tiếp các hồ sơ kế toán, biên bản đại hội đồng cổ đông của Ngân hàng Indosuez tại các trung tâm lưu trữ ở Pháp.
    • Nghiên cứu so sánh hoạt động của Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam với các chi nhánh tại Campuchia, Lào, Quảng Châu Loan và Thượng Hải.
    • Khảo cứu tiến trình chuyển giao tài sản và thanh quyết toán của các chi nhánh Ngân hàng Đông Dương sang Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (miền Nam) và hệ thống ngân hàng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau năm 1954.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng.
    • Các chuyên gia nghiên cứu chính sách tiền tệ, cán bộ quản lý thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
    • Chương 1: Hệ thống định nghĩa, khái niệm kinh tế - ngân hàng và tổng mục thư mục nghiên cứu thời Pháp thuộc.
    • Chương 2 và Chương 3: Dữ liệu về tiến trình phát hành giấy bạc, các sắc lệnh chuyển đổi chế độ bản vị (1930, 1936) và cơ chế vận hành của mạng lưới 10 chi nhánh ngân hàng.
    • Chương 4: Dữ liệu về sự biến động tiền tệ giai đoạn 1945 - 1954 và cơ chế hoạt động của Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngân hàng Đông Dương được thành lập khi nào và nắm giữ những đặc quyền gì?

Ngân hàng Đông Dương được thành lập ngày 21/01/1875 tại Paris (Pháp) bởi một nhóm các nhà tài phiệt ngân hàng lớn. Khi mới ra đời, ngân hàng được Chính phủ Pháp trao ba đặc quyền chính: (1) Độc quyền phát hành giấy bạc tại thuộc địa Đông Dương với thời hạn ban đầu 20 năm (sau đó được gia hạn nhiều lần); (2) Cho vay tín dụng thương mại ngắn hạn và dài hạn; (3) Đầu tư tài chính, mua bán trái phiếu chính phủ và tham gia sáng lập các công ty, xí nghiệp.

2. Chế độ bản vị của đồng bạc Đông Dương (P) thay đổi như thế nào qua các giai đoạn?

Đồng bạc Đông Dương trải qua ba thời kỳ bản vị tiền tệ:

  • 1875 đến trước 31/05/1930 (Ngân bản vị): $1\text{ P} = 27{,}215\text{ gram bạc}$ nguyên chất (chuẩn độ 900/1000).
  • 31/05/1930 đến trước 02/10/1936 (Kim bản vị): Chuyển sang bản vị vàng theo Sắc lệnh ngày 31/05/1930, quy định $1\text{ P} = 655\text{ mg vàng}$ (thanh sắc 900/1000).
  • 02/10/1936 đến năm 1954 (Bản vị Franc): Chuyển sang gắn tỷ giá cố định với đồng Franc Pháp theo Sắc lệnh ngày 02/10/1936, quy định $1\text{ P} = 10\text{ Francs (₣)}$ và biến động theo đồng Franc.

3. Hệ thống chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam được tổ chức và phân chia lợi nhuận ra sao?

Ngân hàng đã thiết lập mạng lưới 10 chi nhánh gồm: Sài Gòn (1875), Hải Phòng (1885), Hà Nội (1886), Đà Nẵng (1891), Nam Định (1926), Cần Thơ (1926), Vinh (1927), Quy Nhơn (1928), Huế (1929) và Đà Lạt (1943). Mỗi chi nhánh có 1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc, 1 Kế toán viên và các nhân viên giao dịch. Định kỳ 6 tháng, chi nhánh phải nộp 1/4 lợi nhuận ròng về trụ sở chính tại Paris; 3/4 lợi nhuận còn lại được giữ tại chi nhánh (trong đó 2/4 chia cho cán bộ, nhân viên và 1/4 chuyển vào quỹ dự phòng).

4. Trong giai đoạn 1945 - 1954, lợi nhuận và vốn điều lệ của Ngân hàng Đông Dương biến động như thế nào?

Theo số liệu thống kê trong luận án (kế thừa từ công trình của Trần Dương và Phạm Thọ, 1960), vốn điều lệ của Ngân hàng Đông Dương đã tăng từ 157 triệu Francs lên mức 2 tỷ Francs. Tiền lãi ròng hàng năm của ngân hàng tăng từ 49 triệu Francs (năm 1946) lên 638 triệu Francs (năm 1954), đạt mức tăng trưởng gấp 13 lần sau 9 năm chiến tranh.

5. Viện Phát hành các Quốc gia Liên kết Việt Nam - Lào - Campuchia được tổ chức như thế nào?

Viện Phát hành được thành lập theo các hiệp định ký năm 1949 giữa Pháp và ba chính phủ thân Pháp, chính thức đi vào hoạt động từ năm 1952 với trụ sở chính tại Phnom Penh và các chi nhánh tại Paris, Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ban quản trị gồm 12 thành viên (6 người Pháp, 2 người Việt Nam, 2 người Campuchia, 2 người Lào). Mọi quyết định phát hành tiền tệ của từng quốc gia đều phải có sự chấp thuận của hai nước còn lại và đại diện Chính phủ Pháp, bảo đảm quyền chi phối tài chính của Pháp cho đến khi bị giải thể sau năm 1954.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Tô Quốc Thái đã phục dựng toàn diện tiến trình lịch sử 80 năm (1875 - 1954) của Ngân hàng Đông Dương trong mối liên hệ hữu cơ với công cuộc thực dân hóa của Pháp tại Việt Nam. Công trình làm sáng tỏ vai trò của định chế này trên cả ba giai đoạn: tài trợ chiến tranh xâm lược và bình định (1875 - 1896), chi phối công cuộc khai thác thuộc địa (1897 - 1945), và thực hiện các nghiệp vụ tài chính phục vụ chiến tranh tái chiếm cũng như thoái vốn về chính quốc (1945 - 1954). Luận án là nguồn tư liệu chuyên khảo có hệ thống, đóng góp các căn cứ thực chứng và phương pháp tiếp cận chuyên ngành lịch sử kinh tế phục vụ nghiên cứu và giảng dạy.