Chương 1 tác giả trình bày các nội dung tổng quan về luận án như sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát, phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng; sau cùng là nội dung kết cấu của luận án.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh lý thuyết Thuyết gắn bó khởi nguồn từ những năm 1950 do hai nhà nghiên cứu Bowlby và Ainsworth và được định nghĩa là một mảng của tâm lý học miêu tả bản chất của sự gắn bó về mặt cảm xúc giữa con người với nhau và đến nay đã tích lũy được một lượng nghiên cứu khá đồ sộ. Theo Homans (1958) và Becker (1960) cho rằng, gắn bó của người lao động với tổ chức được xem như là kết quả của mối quan hệ trao đổi giữa cá nhân và tổ chức. Theo Mowday và Porter (1982), gắn bó tổ chức được định nghĩa là: (1) Niềm tin mạnh mẽ vào những mục tiêu và giá trị của tổ chức. (2) Sự sẵn sàng nỗ lực hết mình vì lợi ích của tổ chức.
(3) Mong muốn rõ ràng để duy trì tư cách thành viên trong tổ chức. Hay nói cách khác, gắn bó tổ chức là sự gắn kết và lòng trung thành của nhân viên với tổ chức, thể hiện qua việc họ tin tưởng và chấp nhận mục tiêu, giá trị của tổ chức, sẵn sàng nỗ lực vì lợi ích của tổ chức và mong muốn duy trì tư cách thành viên trong tổ chức Meyer và Allen cho rằng mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, nó phản ánh ít nhất ba chủ đề chung: sự gắn kết về mặt tình cảm với tổ chức, chi phí liên quan đến việc rời bỏ tổ chức và nghĩa vụ ở lại với tổ chức. Gắn bó dựa trên cảm xúc đề cập đến sự gắn kết về mặt tình cảm của nhân viên với tổ chức. Gắn bó dựa trên tính toán đề cập đến chi phí của một nhân viên rời khỏi tổ chức và gắn bó dựa trên chuẩn mực đề cập đến nghĩa vụ của một nhân viên ở lại trong một tổ chức.
Cách tiếp cận này thể hiện quan điểm gắn bó là một trạng thái tâm lý: (a) mô tả mối quan hệ của nhân viên với tổ chức, và (b) hàm ý về những quyết định tiếp tục hay không tiếp tục là thành viên trong tổ chức. Các chuyên gia nhân sự của Sage People nói về sự gắn bó của nhân viên theo nghĩa "vượt qua những điều cơ bản" và "tạo sự kết nối ở cấp độ sâu sắc hơn". Gallup định 1 nghĩa nhân viên gắn bó là "những người chú tâm, nhiệt tình và tận tụy với công việc và nơi làm việc". Trong khi đó, hiệp hội dành cho các chuyên gia quản lý nguồn nhân lực.
(Chartered Institute of Personnel and Development-CIPD) tập trung vào các mối quan hệ, gọi đó là "sự kết hợp giữa lời cam kết với tổ chức và giá trị của tổ chức”. Cụm từ “sự gắn bó của người lao động với tổ chức” chúng ta thường xuyên nghe, ở mọi lĩnh vực nghiên cứu sẽ có những định nghĩa khác nhau và rất khó để đưa định nghĩa chung về sự gắn bó (SGB). Đó có phải là niềm vui? Sẵn sàng nỗ lực hơn nữa? Sự trung thành? Cam kết? Gắn kết? Niềm đam mê? Động lực, sự hài lòng… Thật ra, đó là sự kết hợp của tất cả những điều vừa nêu, cộng thêm một chút yếu tố nữa?. Và, gắn bó không chỉ là sự nối kết giữa hai con người, nó là sợi dây ràng buộc bao gồm một nỗi khao khát về sự liên lạc thường xuyên với một người và sẽ trải qua nỗi đau khổ nếu phải chia tách khỏi người đó.
SGB của nhân viên không chỉ đơn giản là đến công ty mỗi ngày và tiếp tục làm việc. Đó là về mối quan hệ kết nối sâu sắc hơn nhiều với công việc, với những người cùng làm việc và với chính tổ chức. Không phải lúc nào cũng dễ dàng đo lường mức độ gắn bó của nhân viên hoặc đạt được điều đó. Theo quan điểm của Bhatnagar (2007), những nhân viên gắn bó với tổ chức có thể trở thành nguồn lực quý giá, tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức của họ: (1) Nhân viên gắn bó với tổ chức thể hiện niềm tin mạnh mẽ vào mục tiêu, giá trị của tổ chức, sẵn sàng nỗ lực vì lợi ích tổ chức và mong muốn duy trì tư cách thành viên.
Đây chính là những "bí quyết" riêng của tổ chức, khó có thể bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước. (2) Những nhân viên như vậy sẽ trở thành nguồn lực giá trị, tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, có tính cạnh tranh về giá cả cho tổ chức. (3) Tổ chức có đội ngũ nhân viên ổn định, chuyên nghiệp và gắn bó sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư, giá trị doanh nghiệp sẽ tăng lên. Như vậy, gắn bó tổ chức của nhân viên có thể trở thành nguồn lực độc đáo, khó bắt chước, tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức.
Theo Quan Minh Nhựt và Đặng Thị Đoan Trang (2015) khẳng định, Trong doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn tốt và gắn bó lâu dài với đơn vị có thể trở thành nguồn lực quý giá, giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ mới có chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh. Những doanh nghiệp sở hữu đội ngũ nhân viên như vậy sẽ có lợi thế cạnh tranh vững chắc. Có thể thấy, sự gắn bó của nhân viên đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của một tổ chức. Rõ ràng không có một tổ chức nào có thể đạt được sự thành công và mục tiêu trong dài hạn mà không có những nhân viên tin tưởng vào sứ mệnh của tổ chức 2 và hiểu rõ cách thức để thực hiện sứ mệnh đó.
Chính vì vậy, các tổ chức cần chú trọng xây dựng một môi trường làm việc gắn bó lâu dài, giúp tổ chức thích ứng nhanh với những thay đổi. Khi người lao động (NLĐ) đã có niềm tin và gắn bó với tổ chức, họ sẽ coi những thay đổi mà tổ chức tiến hành là cần thiết, và sẽ có thái độ tích cực hơn trong việc thực hiện. Một đội ngũ nhân viên gắn bó, tin tưởng vào sứ mệnh của tổ chức là nguồn lực vô cùng quý giá, góp phần quan trọng vào sự thành công và phát triển bền vững của tổ chức trong dài hạn. Với tầm quan trọng sự gắn bó của nhân viên với tổ chức như đã trình bày ở trên, các nhà quản trị doanh nghiệp phải có những chiến lược hoạch định quản trị các nguồn lực.
Trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự phát triển bền vững của tổ chức, của Quốc gia. Như chúng ta, đã biết một tổ chức, một đất nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng đạt được sự phát triển như mong muốn. Chính vì thế công tác quản trị nguồn nhân lực là công tác hết sức cần thiết, mang tính chất quyết định cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức, của Quốc gia. Quản trị nguồn nhân lực bao gồm 3 chức năng chính: thu hút nguồn nhân lực, Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, duy trì nguồn nhân lực.
Thu hút nguồn nhân lực nhằm giúp cho các tổ chức có thể tuyển đúng người cho đúng việc. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tích cực góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tổ chức. Duy trì nguồn nhân lực nhằm kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp. Trong điều kiện thị trường lao động cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp (DN) về nguồn nhân lực.
Để thu hút nhân tài, các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện chiến lược quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) để giữ chân nhân tài. Vì, các nhà quản lý đều nhìn nhận rằng họ thường phải trả giá rất cao cho sự ra đi của các nhân viên. Cụ thể, là sự ra đi hay nghỉ việc của NLĐ sẽ kéo theo những đồng nghiệp khác và tạo nên “cơn sóng ngầm” nghỉ việc của một số người lao động còn lại. Do đó, để phát triển DN của mình, các nhà quản lý cần biết cách giữ chân NLĐ, đây chính là vấn đề sống còn cho sự tồn tại và phát triển của các DN trong tình hình kinh tế hiện nay.
Ngoài việc QTNNL, khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đang là một trong những chủ đề nóng đặt ra trong phát triển bền vững. CSR đã trở thành tầm nhìn và sứ mệnh như QTNNL Do đó, các mục tiêu phát triển bền vững và các khái niệm về CSR đang dẫn dắt các hoạt động kinh doanh của hầu hết các tổ chức công và 3 tư nhân. Theo Mohr và cộng sự (2001), CSR là đề cập đến những nỗ lực và trách nhiệm của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu hoặc tránh các tác động có hại và tối đa hóa tác động tích cực và hữu ích lâu dài đối với xã hội. Ngoài ra, CSR được định nghĩa là một công cụ để các tổ chức, doanh nghiệp hoàn thành các hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời đóng góp vào giải quyết các vấn đề xã hội và đạt được cam kết đối với xã hội.
Hơn nữa, CSR cho phép các tổ chức phát triển và cung cấp các nguồn lực một cách hiệu quả (Petrick, J. Vì vậy, CSR được đánh giá là phương tiện hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh (Porter, M. Terrero-De La Rosa và cộng sự (2017) cho rằng, các doanh nghiệp ủng hộ trách nhiệm xã hội thông qua việc khuyến khích các nguyên tắc kinh doanh tạo ra giá trị xã hội, minh bạch, hành vi đạo đức. Theo Nguyễn Vũ (2012), trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là sự cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua các hoạt động để nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và gia đình họ bao gôm cải thiện điều kiện làm việc, an toàn lao động, chăm sóc sức khỏe và phúc lợi của người lao động, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp và tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; Đảm bảo quyền lợi và tạo điều kiện cho người lao động cân bằng giữa công việc và cuộc sống; Đóng góp cho cộng đồng và xã hội; Bảo vệ môi trường và phát triển bền.