CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một thuật ngữ rất rộng bao gồm các loại định hướng khác nhau mà một thương hiệu có thể thực hiện trong các vấn đề phúc lợi và tự nguyện (Anderson 2019). Trong những năm gần đây, TNXH đã trở thành một phần quan trọng trong văn hóa công ty và các mục tiêu chiến lược (Anderson 2019). Hầu hết các nghiên cứu về TNXH được thực hiện ở các nước phát triển, chủ yếu là các nước phương Tây, tác động của TNXH ở các nước đang phát triển vẫn còn phần lớn chưa được khám phá, các nghiên cứu ở các nước phương Tây khó có thể áp dụng ở các quốc gia khác (Irfan Butt, 2016).
Trách nhiệm xã hội ngày là một trong những khía cạnh nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp và nhà nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu trước đây về tác động của trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp ( Bauman và Skitka, 2012). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội có những tác động đáng kể đối với tài chính của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thương mại (Okafor và cộng sự, 2021; Ahmad và các cộng sự, 2022), ngay cả khi các hoạt động TNXH tích cực không làm tăng lợi nhuận ngay lập tức, chúng có thể là công cụ giảm nguy cơ thiệt hại cho việc đánh giá thương hiệu về lâu dài. Nghiên cứu của các tác giả Vishwanathan và cộng sự (2020), Jahmane & Gaies, (2020), Oosterhout, Heugens, Duran, & Van Essen (2020) đã nghiên cứu mối quan hệ tích cực giữa hoạt động CSR và hiệu quả tài chính doanh nghiệp, các tác giả cho rằng CSR có tác động tích cực (i) nâng cao danh tiếng công ty, (ii) tăng sự hài lòng với các bên liên quan, (iii) giảm rủi ro cho công ty, (iv) tăng cường năng lực đổi mới.
7 Người ta cho rằng các doanh nghiệp tích cực đảm nhiệm tổ chức các hoạt động TNXH sẽ cải thiện hiệu tài chính (Chen và Liu, 2010); Niu và Zhou, 2021). Thực hiện TNXH tốt mang lại hình ảnh tức về niềm tin cố định đối với khách hàng và thúc đẩy hiệu quả kinh doanh (Zhou, 2022) và giúp doanh nghiệp phát triển bền vững ( Rashid và cộng sự, 2014; Lê và cộng sự, 2017; Lê và cộng sự, 2019). Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến các hoạt động nhất định của công ty đặt lợi ích xã hội lên trên lợi ích cá nhân của công ty (Han, Yu, Lee, & Baek, 2020; Lo, 2020). Ha (2017) cho rằng việc tăng cường hoạt động TNXH có thể là công cụ tạo nên sự khác biệt hóa sản phẩm/dịch vụ.
Hơn nữa, những nỗ lực CSR nổi bật của một công ty thu hút sự chú ý đáng kể từ những người bảo trợ hiện tại và tương lai (Lee, Lee, & Cho, 2018; Lo, 2020). CSR góp phần nâng cao hình ảnh/danh tiếng của công ty (Park, 2019) và thái độ tích cực của khách hàng (Han et al. Ngoài ra, nhiều công ty trong ngành khách sạn và du lịch đang tập trung vào thực hành và thúc đẩy các hoạt động có trách nhiệm xã hội khác nhau, chẳng hạn như kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện (Han và cộng sự, 2020; Park , 2019) Nghiên cứu TNXH bị chi phối bởi lý thuyết các bên liên quan (Latif và Sajjad, 2018). Các bên liên quan là một cá nhân, nhóm hoặc tổ chức mà công ty tương tác trong khi theo đuổi các mục tiêu của mình (Wherther và Chandler, 2006).
Clarkson (1995) cho rằng các giám đốc điều hành doanh nghiệp chủ yếu đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan. Do đó, việc tập trung vào kỳ vọng và nhận thức của những người nắm giữ cổ phần là bắt buộc, vì chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp và đáng kể đến hiệu quả hoạt động của công ty. Vì vậy, các công ty cần liên kết các hoạt động CSR của họ với sở thích của các bên liên quan và thực hiện các hoạt động TNXH có liên quan đến chiến lược công ty (Latif và cộng sự, 2020; Boesso và cộng sự, 2015). Porter và Kramer (2006) lần đầu tiên đưa ra quan điểm “giá trị được chia sẻ”, tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua lồng ghép TNXH vào chiến lược.
Chiến lược này mang lại lợi ích cho cả cổ đông và những 8 bên có chung lợi ích với doanh nghiệp. Giải pháp cả hai cùng thắng nằm ở sự giao thoa giữa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội. Chính vì thế, các doanh nghiệp nên dừng suy nghĩ về “nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm xã hội” và nên bắt đầu suy nghĩ về chiến lược “lồng ghép lợi ích xã hội và lợi ích của doanh nghiệp” (Porter và Kramer, 2011). Tác giả Nguyễn Thị Kim Chi (2016) trong bài nghiên cứu của mình đã coi TNXH của doanh nghiệp ra đời nhằm định hướng kiểm soát và điều chỉnh những hành vi kinh doanh của chủ thể doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững hơn.
Quan điểm của tác giả cập nhập theo xu thế mới của thị trường, đó là vấn đề toàn cầu, khách hàng toàn cầu không chỉ quan tâm tới giá cả, chất lượng hàng hóa và sản phẩm , mà họ còn quan tâm ngày càng nhiều hơn đến cách thức sản phẩm được sản xuất ra trong điều kiện môi trường và làm việc của người lao động có phù hợp hay không. Theo tác giả thì quan niệm về TNXH của doanh nghiệp đang có sự thay đổi căn bản, đó là TNXH trở thành một thước đo thể hiện sức mạnh giám sát của cộng đồng đối với doanh nghiệp. Nghiên cứu của Hồ Viết Tiến và Hồ Thị Vân Anh, (2018) "trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: Các xu hướng nghiên cứu" đã tổng quan các nghiên cứu về TNXH của doanh nghiệp; các lý thuyết nền dùng giải thích các chủ đề nghiên cứu trên ba cấp độ thể chế, tổ chức và cá nhân; cách tiếp cận và phương pháp sử dụng trong nghiên cứu TNXH : (i) thứ nhất, xem xét các cơ sở lý thuyết nền giải thích TNXH, (ii) thứ hai, phân loại các chủ đề nghiên cứu TNXH theo từng cấp độ phân tích (thể chế, tổ chức, cá nhân) cũng như phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở mỗi cấp độ, từ đó xác định các xu hướng nghiên cứu phổ biến về TNXH đã và đang được thực hiện, (iii) thứ ba, đề cập đến tính đa dạng của cơ sở dữ liệu TNXH đang được sử dụng trong các nghiên cứu TNXH, (iv) nghiên cứu TNXH đa cấp độ, đa phương pháp tiếp cận, đa chủ đề và đa quốc gia sẽ là xu hướng chủ đạo khi nghiên cứu TNXH trong các thập niên tới. Tác giả đưa ra gợi ý nghiên cứu tiếp theo được đúc kết từ các nghiên cứu tổng quan TNXH trước đây bao gồm: Thứ nhất, hầu hết các nghiên cứu TNXH quốc tế chủ yếu được nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô và trung mô (cấp độ thể chế hoặc tổ 9 chức) so với cấp độ vi mô (cấp độ cá nhân) và nghiên cứu các cấp độ đó một cách tách biệt.
Vì vậy, các nghiên cứu tương lai có thể chú ý hơn ở cấp độ cá nhân hoặc tiếp cận nhiều cấp độ và đa ngành để tổng hợp một cách toàn diện về TNXH. Thứ hai, khi nhìn vào các chủ đề trong suốt thời gian qua, có thể thấy rằng vấn đề TNXH liên quan đến môi trường thu hút ít sự quan tâm nghiên cứu ở các cấp độ phân tích (ngoại trừ cấp độ tổ chức) cho dù vấn đề môi trường tự nhiên nổi lên như là một vấn đề toàn cầu, liên quan đến tất cả các quốc gia kể cả phát triển, đang phát triển và mới nổi. Vì thế, trách nhiệm môi trường sẽ là một chủ đề kế tiếp về TNXH. Thứ ba, đa số các kết quả các nghiên cứu về chủ đề này còn chưa nhất quán, do vậy, chủ đề này xứng đáng được được nghiên cứu hơn nữa trong tương lai.
Thứ tư, các nghiên cứu hiện nay về mối quan hệ giữa TNXH - marketing, cụ thể từ cách tiếp cận marketing xã hội, marketing có động cơ xã hội với hiệu quả vẫn chưa được xem xét nhiều ở các nghiên cứu trước. Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng xem xét các hiệu quả mang lại cho công ty thông qua cách tiếp cận này. Thứ năm, trong bối cảnh các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng gay gắt thì nghiên cứu về trách nhiệm với người tiêu dùng thực phẩm trở nên cấp thiết. Các chứng chỉ bền vững tự nguyện, chứng chỉ TNXH như Fair Trade, Rainforest Alliance, Global Aquaculture Practice… được coi là chứng nhận về cách làm TNXH tại các doanh nghiệp.
Nghiên cứu thực nghiệm gần đây có xu hướng nghiên cứu hoạt động TNXH của doanh nghiệp với sự gắn bó của nhân viên, người lao động và thu được kết quả tích cực giữa hoạt động TNXH và sự gắn bó của nhân viên trong công ty, tổ chức (Trần Thị Hiền và Nguyễn Hồng Quân, 2021; Nguyễn Thị Ngọc Phương và Đặng Như Ngà, 2020; Nguyễn Hữu Khôi, 2020; Nguyễn Thị Phương và cộng sự, 2019). Các nghiên cứu tương tự cũng đưa ra kết luận trách nhiệm xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả và lòng trung thành của nhân viên công ty(Hoàng Thị Phương Thảo và Nguyễn Kiều Việt Như, 2021), sự gắn bó và thỏa mãn của người lao động (Bùi Nhất Vương, 2021).2 Các mô hình nghiên cứu TNXH ❖ Mô hình nghiên cứu của Elkington (1991) 10 Elkington (1991) đã áp dụng mô hình Carroll (1991) và bổ sung thêm tính bền vững môi trường vào TNXH để hoàn thiện mô hình TNXH. Việc thực hiện TNXH phải được áp dụng đồng thời và gắn kết hơn thay vì ưu tiên trách nhiệm kinh tế. Mô hình này được áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có ngàng F&B.
Một số nghiên cứu duwah trên lý thuyết đã cho thấy khách hàng dễ dàng hiểu và phân biệt giữa ba thành phần TNXH theo mô hình của Elkington (Rashid và cộng sự, 2014; Alvarado và cộng sự, 2017. Mô hình Triple Bottom Line" giúp khách hàng có cái nhìn tổng quan hơn và đánh giá nhanh việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp. ❖ Mô hình "Kim tự tháp" của Carroll (1991) Carroll (1991) đã khái quát CSR có bốn thành phần chính là trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Trách nhiệm kinh tế có nghĩa là doanh nghiệp có trách nhiệm tạo ra lợi nhuận, sản xuất hàng hóa, dịch vụ cho xã hội.
Đây là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận.