Chương 1. Giới thiệu Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của đề tài và kết cấu luận văn để qua đó làm cơ sở cho các chương tiếp theo. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Trong chương này sẽ phân tích tổng quan lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, mức độ phá sản, cạnh tranh thị trường, vốn trí tuệ. Đồng thời khảo lược lại các nghiên cứu trước để tìm ra khe hở nghiên cứu.
Ngoài ra, trong chương này cũng dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước để làm cơ sở cho chương 3 trong việc đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên nền tảng lý thuyết chương 2, trong chương 3, đề tài nghiên cứu mô tả cụ thể về phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, 7 trong đó sẽ mô tả chi tiết về các biến và cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả và thảo luận Trên cơ sở dữ liệu và mô hình nghiên cứu đã trình bày tại chương 3, chương 4 trình bày kết quả ước lượng của mô hình nghiên cứu và tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu. Kết luận Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã trình bày ở chương 4.
Chương 5 thực hiện kết luận nghiên cứu, đề xuất các hàm ý chính sách liên quan và trình bày các điểm hạn chế, định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ MỨC ĐỘ PHÁ SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm về phá sản của doanh nghiệp Tại Việt Nam phá sản là tình trạng pháp lý trong đó công ty, hợp tác xã không có khả năng trả nợ và bị Tòa án nhân dân tuyên bố phá sản theo Điều 4, Khoản 2, Luật Phá sản 2014.
Theo Điều 5, Luật Phá sản 2014 có thể hiểu trường hợp một công ty bị phá sản, công ty đó phải đạt được thỏa thuận giải quyết với các chủ nợ hoặc nộp đơn xin phá sản lên tòa án. Các nhà đầu tư và chủ nợ phải đối mặt với những rủi ro và tổn thất đáng kể khi doanh nghiệp phá sản. Theo các nghiên cứu trước đây, Gordon (1971) định nghĩa doanh nghiệp phá sản là tình trạng không có khả năng trả nợ do mức độ sinh lời giảm sút. Phá sản hoặc mất mức độ thanh toán vĩnh viễn dẫn đến việc không đạt được các mục tiêu cơ bản cũng được xem như thất bại (Cochran, 1981; Pretorius, 2009).
Khi đó, Boettcher, Cavanagh, Xu (2014) cho rằng doanh nghiệp phá sản thường do vi phạm nhân quyền và nguyên tắc công lý. Hai tiêu chí này được sử dụng để nghiên cứu tính đạo đức của hành động. Một định nghĩa khác cho rằng phá sản là một sự kiện mang tính chu kỳ tự nhiên với các sự kiện mang tính xúc tác tạo nên các chính sách hiện hành của công ty (Boettcher, Cavanagh, Xu 2014). Thông qua các nghiên cứu trước, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, phá sản doanh nghiệp được hiểu là do việc lựa chọn và thực hiện các quyết định trong kinh doanh làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính dẫn đến mất mức độ thanh toán các khoản nợ đến hạn trong tương lai (Cochran, 1981; Pretorius, 2009).
Đo lường mức độ phá sản của doanh nghiệp Qua từng giai đoạn phát triển của thị trường, các chỉ tiêu cũng như mô hình đại diện cho mức độ phá sản doanh nghiệp cũng được cập nhật để phù hợp hơn với tình hình kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Để xây dựng mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp nhằm đo lường mức độ phá sản, đề tài đã khảo 9 lược các nghiên cứu trước. Theo đó, một số mô hình tiêu biểu được ứng dụng nhiều trong việc đo lường mức độ phá sản doanh nghiệp có thể kể đến như sau: 2. Mô hình Z-score của Altman Khởi nguồn từ mô hình của Beaver (1966) với kết quả nghiên cứu cho rằng có ba chỉ số quan trọng trong việc xác định khủng hoảng tài chính của một doanh nghiệp, đó là tổng nợ trên tổng tài sản, thu nhập thuần trên tổng tài sản, dòng tiền trên tổng nợ.
Tuy nhiên, theo Altman (1968) biện luận rằng hạn chế của nghiên cứu này là đã sử dụng các chỉ số đơn giản và đánh giá riêng biệt trong việc phân tích. Chính vì vậy mà Altman (1968) đã đưa ra mô hình Z-Score sử dụng phương pháp phân tích đa biệt số để dự báo mức độ phá sản tốt hơn. Trong đó, mô hình nghiên cứu dự báo phá sản của Altman gồm năm yếu tố là mức độ thanh toán, mức độ sinh lợi, đòn bẩy tài chính và hiệu suất hoạt động. Cụ thể, mô hình nghiên cứu của Altman (1968) như sau: Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3+ 0,6X4+ 0,999X5 Trong đó: Z: chỉ số đo lường dự báo phá sản doanh nghiệp X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản X2 = Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối/Tổng tài sản X3 = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản X4 = Vốn chủ sở hữu/Tổng nợ phải trả X5 = Doanh thu thuần/Tổng tài sản Theo đó, việc phân loại tình trạng doanh nghiệp thông qua giá trị Z-score như sau: 2,99 < Z: Doanh nghiệp an toàn, nếu chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính dùng để tính toán.
1,81 < Z < 2,99: Doanh nghiệp có dấu hiệu về khả năng phá sản. Z < 1,81: Doanh nghiệp có vấn đề nghiêm trọng có nguy cơ phá sản. 10 Kết quả nghiên cứu của Atlman (1968) cho thấy mô hình phân tích đa thức các tỷ số cực kỳ chính xác trong việc dự báo phá sản doanh nghiệp, mô hình có độ tin cậy khoảng 94% đến 95%. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là chỉ nghiên cứu nguy cơ phá sản trên các công ty sản xuất lớn (dựa theo quy mô tài sản).
Cho nên, đến năm 1983, mô hình Z-Score đã được sửa đổi thành Z’ và áp dụng trên các công ty sản xuất tư nhân. Trong đó, các biến X được giữ nguyên như mô hình Z-Score năm 1968, mô hình Z’ được Altman sửa đổi như sau: Z’ = 0,717X1 + 0,847X2 + 3,107X3+ 0,420X4+ 0,998X5 Đến năm 1993, mô hình Z-Score lại được sửa đổi thành Z’’ và cũng được áp dụng trên các công ty sản xuất tư nhân. Tuy nhiên biến 𝑋5 bị lượt bỏ, mô hình Z’’ được viết lại như sau: Z’’ = 6,56X1 + 3,26X 2 + 6,72X 3 + 1,05X 4 Mô hình Z-Score ngày càng được ứng dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia và kiểm chứng thực nghiệm trên nhiều khu vực kinh tế khác như nghiên cứu Altman (2000) nghiên cứu thực nghiệm trên các công ty ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Altman với mô hình Z-score cũng được phát triển trong nhiều nghiên cứu sau này như nghiên cứu của Belás và cộng sự (2018), Sandin, Porporato (2007), Ohlson (1980), Altman, Sabato (2007), Lâm Minh Chánh (2007), Huỳnh Cát Tường (2008).
Mô hình Alexander Bathory Mô hình Alexander Bathory được đề xuất bởi Bathory (1984) để dự đoán mức độ phá sản của doanh nghiệp, mô hình tập trung vào phân tích 25 chỉ số bao gồm nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời, cơ cấu vốn, tỷ trọng đầu tư vào tài sản,… sau đó tập trung vào 5 chỉ số giải thích mức độ phá sản của doanh nghiệp. Mô hình của Bathory được viết lại như sau: FR it = SZLit + SYit + GLit + YFit + YZit Trong đó: 𝐹𝑅𝑖𝑡 : chỉ số đo lường mức độ phá sản của doanh nghiệp thứ i 11 SZLit = (Lợi nhuận trước thuế + khấu hao tài sản cố định + thuế thu nhập hoãn lại) / Nợ ngắn hạn 𝑆𝑌𝑖𝑡 = Lợi nhuận trước thuế/tổng nguồn vốn 𝐺𝐿𝑖𝑡 = Vốn cổ phần/Nợ ngắn hạn 𝑌𝐹𝑖𝑡 = Tài sản hữu hình ròng/Nợ phải trả 𝑌𝑍𝑖𝑡 = Vốn lưu động/Tổng tài sản Alexander Bathory (1984) cho rằng giá trị của chỉ số 𝐹𝑅𝑖𝑡 càng nhỏ, thể hiện mức độ phá sản của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Theo đó, mô hình nghiên cứu có thể áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp vì nó rất đơn giản trong tính toán và dự báo mức độ phá sản cũng như đo lường năng lực tài chính của doanh nghiệp (Vũ Thị Hậu, 2017). Cho đến nay, mô hình cũng đã được một số nghiên cứu áp dụng như nghiên cứu của Bhunia, Mukhuti (2012), Vũ Thị Hậu (2017).
Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số hạn chế về độ chính xác và mức độ giải thích do mô hình không cung cấp nhiều thông tin về mối quan hệ giữa các biến. Mô hình Ohlson Oscore Bên cạnh hai chỉ số được nêu trên, chỉ số Oscore của Ohlson (1980) được đánh giá cũng rất hữu ích trong việc đo lường, dự báo mức độ phá sản của doanh nghiệp. Theo đó, Ohlson (1980) là người đầu tiên phát triển mô hình hồi quy logit để xây dựng mô hình phá sản theo mức độ để dự đoán sự phá sản. Cụ thể, mô hình Oscore được đo lường bằng mô hình sau: Z = 0,517 – 0,460𝑋1 + 9,329𝑋2 + 0,388𝑋3 + 1,158𝑋4 Trong đó: 𝑋1 = Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản 𝑋2 = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản 𝑋3 = Vốn lưu động ròng / Tổng tài sản 𝑋4 = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản 12 Trường hợp Z < 0,5 thì Oscore = 1 doanh nghiệp có mức độ phá sản trong năm tiếp theo.
Ngược lại Z > 0,5 thì Oscore = 0 doanh nghiệp an toàn. So với mô hình Oscore chỉ phân loại được doanh nghiệp an toàn và doanh nghiệp có nguy cơ phá sản thì mô hình Z-score có ưu điểm hơn trong việc đo lường mức độ phá sản doanh nghiệp bởi mức độ phân loại tốt hơn với ba trường hợp để đánh giá mức độ phá sản của doanh nghiệp gồm doanh nghiệp nằm vùng an toàn, doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản và doanh nghiệp có vấn đề nghiêm trọng có mức độ phá sản cao. Ngoài ra, Z-Score có thể áp dụng cho nhiều loại dữ liệu khác nhau, bao gồm cả dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính. Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đề tài sử dụng mô hình Altman (1968) để đo lường mức độ phá sản của các doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam.
Nguyên do, thứ nhất là tính ứng dụng phổ biến của mô hình Z-score trên toàn thế giới.