Chương 1: Co sé ly thuyét va tông quan nghiên cứu ảnh hưởn g của công bộ thông tin trách nhiệm xã hội đến gia trị doanh nghiệ p. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu liên quan đến mục tiêu của Luan an. Trén eo so do, xác định khoảng trắng nghiên cứu, Chương 2; Giá thuyết và phương pháp nghiên cứu, Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, đo lường biến, xác định mẫu, thu thập, xử lý đữ liệu, và quy trình phân tích được trinh bảy trong Chương nảy. Chương 3: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của công bồ thông tin trách nhiệm xã hội đến giá trị doanh nghiệp.
Trong chương nảy, tác giả trình bảy các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và bản luận về các kết quả nghiên cứu, Chương 4: Kết luận và hảm Ÿ chính sách. Chương này trính bay thao luận kết qua nghiên cứu, ham ý chính sách, những hạn chế của Luận án và đẻ xuất hướng nghiên cứu tiên theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU ANH HUONG CUA CONG BO THONG TIN TRACH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP Giới thiệu: Trong chương này, tác giá trình bảy cơ sở lý thuyết và tong quan nghiên cửu về ảnh hướng của công bố thông tin trách nhiệm xã hội đến giá trí doanh nghiệp. Đây là cơ sở đẻ xác định khoảng trống nghiên cửu, 1.
Công bồ thông tin trách nhiệm xã hội 1. Khái niệm cong bé thong tin trach nhiém xi hội Công bỏ thông tin trách nhiệm xã hội xuấi hiện từ những nầm 1970 tại các nước phát triển (Gray &: cong su, 2014: Guthrie & Abeys ekera, 2006). Theo Guthrie va Mathews (1985), công hố thông tin trách nhiệm xã hội là Sự cung cấp thong tin mé ta va thong tin dinh lượng liên quan đến sự tương tác với môi trường và xã hội, được trình bây trong báo cáo thường niên và/hoặc báo cáo trách nhiệm xã hoi (Hackston & Milne, 1996), Theo định nghĩa này, nội dung thông tín công bề là kết qua hoạt động trách nhiệm xã hội của công ty; loại thông tin được công bố lạ thong tin dink tính, thông tín tiễn tệ, hoặc thông tin định lượng: và nơi truyền đại thông tin là báo cáo thường niên hoặc các báo cáo khác, Theo Parker (1990), công bê thông tín trách nhiềm xã hội là sự báo cáo về: (a) tác động đến xã hội do hoại động của công ty gây ra; (b) hiểu qua từ chương trinh xã hội; (c) thực hành trách nhiệm xã hội; (đ) quản lý nguồn lực xã hội của cong ty (Guthrie & Parker, 1990). Qua dinh nghia nay, Parker (1990) muốn nhấn mạnh đến nội dung công bé thông tin trách nhiệm xã hội.
Tuy nhiên, định nghia nay không đề cập đến loại thông tin được công bế và nơi công bồ thông tin. Một định nghĩa khác tương đối toàn điện, đầy đủ và rõ ràng hơn được đưa ra bởi Gray & cộng sự (2000). Công bó thông tin trách nhiệm xã hội ` là việc chuân bị x ` a xuâit bản tãi liệu vềay hoạt động „4 © awa a sa lì mm a liên quan đến xã hội, môia trườn as + we » g, người lao động, i] cộng đồng, khách hàng và các bên liên quan khác, và nơi điển ra các tương tác và hoạt động đó cũng như hậu quả mà những tươn g tác và hoạt động đó gầy ra; công bố thông tin trách nhiệm xã hội có thể chứa thing tin tién tệ nhưng phô biển hơn cá là sự kết hợp giữa thong tin định lượng, thông tin mô tả và thong tin định tính. Công bê thông tin trách nhiệm xã hội có thé phục vụ một số mục địch nhưng việc thực hiện trách nhiệm của công ty đối với các bên liên quan là quan trọng nhất, và là cơ sở để đánh giá việc thực hiện tách nhiệm xã hội (Gray & cong su, 2014).
Binh nghĩa này đã xác định được nội dung công bố thôn g tin, loại thông tin được công bê và tính chất thông tin của thông tín công bố, Tom lai, công bổ thông tin trách nhiệm xã hội là sự cung cần thông tin về kết quả hoạt động trách nhiệm xã hội trên bảo cáo thường niên và/ hoặc báo cáo phát triển bản ving. Bang cach công bố thông tin trách nhiệm xã hội, công ty có thể đáp ứng nhu cầu thing tin cân thiết của các bên liên quan, giái quyết các xung đội tiêm an, duy trì, hoặc cái thiện tính hợp pháp, hoặc quản tri an trong các bên liên quan, Do đỏ sự tồn tại của công ty được các bên liên quan hỗ trợ đề có thể thực hiện được các mục tiêu như đạt được sự ồn định trong kinh doanh và hoạt động liên tục, Ä-1. Phân loại công bố thông tin trách whiém xã hội Công bỏ thông tín trách nhiệm xã hội có thể được tiếp cận theo phương điện hắt buộc hoặc tự nguyện (Clarkson & cộng su, 2008: Chen & cong str, 2018), Công hồ thông tìn trách nhiễm xã bội bắt hước là sự công bố thong tin trách nhiệm xã hội theo quy định của pháp luật quốc gia (Chen & cộng sự, 2018), Việc ban hành các quy định hướng dẫn công bố thông tin nhằm thúc đây công bố thông trì trách nhiệm xã hội trong cộng đồng công fy và giúp chính phủ đánh giả tỉnh hiệu quả của các chính sách về xã hội và môi trường (Bonsón & Bednárová, 2015). Về phía mình, công ty công bố thông tín trách nhiệ m xã hội đề thé hiện sự tuân thủ luật pháp, đáp ứng, duy trì hoặc cải thiện tỉnh hợp pháp, và giảm các tác động tiểu cực từ các bên liên quan (Deegan & céng sur, 2002, Berthelot & cộng sự, 2003).
Tại Việt Nam, Thông tư số 155/TT-BTC (sau đây gọi là Thông tư số 155) là căn cứ pháp lý quy định nghĩa vụ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các công ty trên thị tường chúng khoán Việt Nam (Thông tứ số 155, 2013). Công bỏ thông tin trách nhiệm xã hội bắt buộc bao gồm các nội dung như nguyê n vật liệu, năng lượng, nước, tuân thủ pháp luật về bảo vẻ môi trường, người lao động, và cộng dong dia phương. Gần đây, Bộ tài chính đã ban hành Thông từ số 96/ TT-BTC (sau đây gọi là Thông tư số 96) dé thay thể Thông tư số 155. So với Thông từ số 145, Thông từ số 96 bề sung quy định về phát thải khí nhà kính.
Công bố thông tin tách nhiệm xã hội tự nguyện là sự công bỏ thông tin trách nhiệm xã hội vượt ra ngoài sự tuân thủ luật pháp (McWilliams & Siepel, 2001). Động cơ công bố thông tin trách nhiệm xã hội tự nguyện có thể là cùng cấp thông tín đầy đủ và rõ rằng khi công ty đối mặt với các vấn đề môi trường, xã bội, hoặc nhân quyền nghiêm trọng; hoặc cải thiện tính hợp pháp; hoặc quản trị an tượng các bền liên quan (Deegan & cộng sự, 2002; Gamerschlag & cong sir, 2011}. Công bộ thông tín trách nhiệm xã hội tự nguyện có thể theo tiêu chuẩn dựa trên nguyên tắc (như Hiệp ước toàn cầu của Liên Hợp Quốc), tiếu chuẩn bảo cáo (như Sáng kiến GRET), tiêu chuẩn quy trinh (nh tiêu chuẩn ISO 26000), hoặc tiêu chuẩn chứng nhận (như tiêu chuân ISO 14001) (Gilbert & cong sự, 2011). Trong đó, hướng dân của GRI được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay bởi nó có thể nang cao mức độ công bó thông tin trách nhiệm xã hội, tính giải trình và tiện ích của báo cáo thường niên và/ hoặc báo cáo phát triển bên vừng (de Klerk & công sự, 2013).
Đa hường công 66 thông tin trách nhiệm xã hội Do lường công bổ thông tin trách nhiệm xã hội là việc khó khăn bởi cấu trác đa chiều của trách nhiệm xã hội (Carroll, 1979). Thực tiên nghiên cửu cho thay có hai phuong phap do lường công bố thông tín trách nhiệm xã hội phổ biến là bộ chỉ sd va phan tích nội dụng ( Wang & cộng sự, 2016; Galant & Cadez, 2017). Đo lường công bê thông tin trách nhiệm xã hội qua bệ chỉ số Bộ chỉ số là bộ chỉ số công bố thông tin trách nhiệm xã hội được biến soạn bởi cơ quan xếp hạng chuyên ngành đựa trên mẫu đại điện là những công ty công bo thong tin trách nhiệm xã hội tốt (Abbott & Monsen, 1979), B6 chi sd gom bo chi số công b6 théng tin trách nhiệm xã hội quốc tế và bộ chí số công bó thông tin trách l3 nhiệm xã hội quốc gia. Bộ chỉ sẻ quốc tế bao gồm các chỉ số như chỉ số KLD (Kinder, Lydenberg, Domini Research and Analytics index}, chi sé GRI (Globa l Reporting Initiative index), chi sé ESG (Environment ~ Social — Governance index).
BO chi s6 quốc gia gồm các chỉ số như chỉ s6 KEJ1 (Han Quốc), chỉ số THEXð35 (Tây Ban Nha), chỉ số Phát triển bên vững của Việt Nam (Viet Nam Sustfainabiity Index — VNSI, Bộ chỉ số thường sẵn có và có thể làm căn cử để so sánh mức độ công bổ thong tin tách nhiệm xã hội giữa các công ty (McGuie & cộng sự, 1958). Tuy nhiên, độ chỉnh xác của các bộ chỉ số này phụ thuộc nhiều vào kỳ năng và trì độ của người đánh gid (Abbott & Monsen, 1979). Hơn nữa, bộ chỉ số danh tiếng thường được xây đựng theo mẫu đại diện là những công ty công bỏ thông tin trách nhiệm xã hội tối; do vậy, bộ chỉ số danh tiếng có thé không mang tính đại điện cho toàn bộ thị trường (Abbott & Monsen, 1979; Galant & Cadez, 2017), 1.2, Đo lường công bố thông tin trách nhiệm xã hội theo phân tích nôi dụng Theo Krippendorff (2004), phan tích nội đụng là việc mã hóa nội dụng của đoạn văn bản thành nhiều nhóm khác nhau tùy thuộc vào tiêu chỉ được chọn, Đảm báo độ tin cậy là việc quan trọng nhất của phân tích nội dụng, Dé tin cậy của công bộ thông tín trách nhiệm xã hội có thể chứng mình bằng cách báo cáo rằng sự khác biệt giữa các bộ mã hóa là rất ít, hoặc đã được giải quyết (Plumlee & cộng sự, 2015); hoặc lập trinh viễn duy nhất đã được đào tạo đề thực hiện việc mã hóa một cách độc lập (Clarkson & cộng sự, 2008). Đơn vị mã hóa dừ liệu có thể là trang, câu, từ/ cụm tử, Dữ liệu mã hóa bang cách đếm số trang, câu, tử/ cụm từ, hoặc sử dụng chỉ số công bố thông tin trách nhiệm xã hội.