CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận chung 1. Khái niệm về Quản Trị Công Ty Không có một định nghĩa duy nhất về quản trị công ty (QTCT) (tiếng Anh: corporate governance) có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế. Tính đến thời điểm hiện tại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QTCT trong cả thực tiễn và lĩnh vực nghiên cứu học thuật (Bebchuk & Hamdani 2009; Shleifer & Vishny 1997).
Đặc biệt hơn khi các thất bại của nhiều công ty lớn trên thế giới như WorldCom, Arthur Andersen và Enrol có liên quan đến vấn đề QTCT yếu kém (Erkens và cộng sự, 2012). Do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa lại cũng như xem xét nhiều khía cạnh đa dạng của QTCT và nhận thấy rằng văn hóa, cơ sở pháp luật cũng như quá trình phát triển lịch sử của các nước sẽ là những nhân tố khiến cho việc xác định một định nghĩa chung, thống nhất về QTCT là rất khó (Ararat và cộng sự, 2015; Black 2001; Claessens & Yurtoglu 2012). Khai thác từ quan điểm hẹp, theo định nghĩa về hệ thống quản trị của Hội đồng Cadbury là “hệ thống mà công ty được chỉ đạo và kiểm soát (Cadbury 1992). Theo tiêu chuẩn của Úc (2003), quản trị công ty được định nghĩa là quá trình mà các tổ chức được chỉ đạo, kiểm soát và nắm giữ.
Tương tự với Shleifer & Vishny (1997) nhấn mạnh quản trị công ty là cách thức mà nhà cung cấp tài chính đảm bảo rằng họ sẽ nhận được lợi nhuận tốt thông qua việc đầu tư vào một công ty. Định nghĩa này hẹp ở khía cạnh nêu bật mối quan hệ giữa nhà cung cấp tài chính và các nhà quản lý công ty mà không nhận ra tầm quan trọng của mối quan hệ với các bên liên quan. Tiếp đó, hội đồng Quản trị công ty ASX (Council 2014) đã nêu ra khái niệm về quản trị công ty như sau: “Khuôn khổ các quy tắc, các mối quan hệ, các hệ thống và các quy trình bên trong mà qua đó quyền lực được thực hiện và kiểm soát trong tập đoàn. Nó bao gồm các cơ chế mà công ty, và những người đang kiểm soát, được tổ chức để thực hiện.
QTCT có ảnh hưởng đến cách thức mà các mục tiêu của công ty được đặt ra và đạt 9 được, làm thế nào rủi ro được theo dõi và đánh giá, và làm thế nào hiệu quả được tối ưu hóa”. Bên cạnh đó, một số tranh luận đã xuất hiện xung quanh các nhà nghiên cứu là rằng nghĩa vụ quan trọng nhất của một công ty là hướng tới việc tối đa hóa sự giàu có cho các cổ đông (Baker và cộng sự, 1988; Fama & Jensen 1983; Jensen 1986; Jensen & Meckling 1976; Ross 1973; Scharfstein 1988). Góc nhìn hẹp đánh giá về định nghĩa này có thể được giải thích thông qua lý thuyết đại diện trong đó các cổ đông là chủ sở hữu hoặc người đứng đầu công ty sẽ thuê người thực hiện công việc hoặc các đại diện như giám đốc điều hành hay quản lý công ty (Mallin, 2004). Các cổ đông, theo lý thuyết này sẽ kỳ vọng những người đại diện sẽ hành động và ra quyết định vì lợi ích cao nhất của họ.
Một định nghĩa khác của Walker (2009) cũng mang hàm ý tương tự, trong đó nhấn mạnh rằng “vai trò của QTCT là để bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích của cổ đông bằng cách thiết lập các định hướng chiến lược của công ty, bổ nhiệm và giám sát quản lý nhằm đạt được mục tiêu trên”. Tuy nhiên, có một quan điểm mang góc nhìn rộng hơn tồn tại phổ biến về định nghĩa của QTCT. Theo OECD (2004), QTCT là: “Quản trị công ty bao gồm một tập hợp các mối quan hệ giữa nhà quản lý của công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên liên quan khác”. Cơ cấu QTCT quy định cụ thể việc phân phối các quyền và trách nhiệm giữa các thành viên khác nhau trong công ty, chẳng hạn như HĐQT, nhà quản lý, các cổ động và các bên liên quan khác và giải thích rõ ràng các quy tắc và thủ tục ra quyết định về các công việc của công ty.
Bằng cách này, nó cũng cung cấp các cấu trúc thông qua đó các mục tiêu của công ty được thiết lập và các phương tiện đạt được những mục tiêu này và giám sát hiệu quả”. Trong quan điểm này, công ty được coi là một thực thể xã hội có trách nhiệm công bố thông tin và trách nhiệm với các bên liên quan như cổ đông, nhà cung cấp, khách hàng, chủ nợ, quản lý, chính phủ và cộng đồng địa phương (Freeman & Reed 1983). Những định nghĩa ủng hộ trường phái này cho rằng một công ty có nghĩa vụ không chỉ cho các cổ đông mà còn là tất cả các bên liên quan, người có đóng góp quan trọng cho sự thành công của họ (Donaldson & Preston 1995). Theo góc nhìn này, IFC quan điểm rẳng “Quản trị công ty là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”; “từ giác độ bên ngoài, QTCT tập trung vào những mối quan hệ 10 giữa công ty với các bên có quyền lợi liên quan.
Các bên có quyền lợi liên quan là những cá nhân hay tổ chức có các quyền lợi trong công ty; các quyền lợi ấy có thể xuất phát từ những quy định của luật pháp, của hợp đồng, hay xuất phát từ các mối quan hệ xã hội hay địa lý. Các bên có quyền lợi liên quan không chỉ có các nhà đầu tư mà còn bao gồm các nhân viên, các chủ nợ, các nhà cung cấp, các khách hàng, các cơ quan pháp luật, các cơ quan chức năng của nhà nước, và các cộng đồng địa phương nơi công ty hoạt động. Một số người còn đưa cả vấn đề môi trường vào danh sách các bên có quyền lợi liên quan quan trọng”. Như vậy, mục đích của QTCT là sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả bằng việc giảm gian lận và quản lý yếu kém với quan điểm đồng thời phát huy tối đa và gắn kết mâu thuẫn lợi ích thường trực của các bên liên quan (Cadbury 1999).
Bên cạnh đó, mối quan tâm chính nhất của QTCT là làm sao có thể quản lý hiệu quả các mối quan hệ giữa các bên liên quan khác nhau ở các hệ thống chính trị khác nhau (Maher & Andersson 2000). Lý thuyết các bên liên quan truyền thống được nghiên cứu bởi Aguilera & Jackson (2003) cho thấy công ty là “mối quan hệ của các hợp đồng” với các bên liên quan khác nhau, họ nhấn mạnh rằng mục tiêu quan trọng của công ty là tối đa hóa lợi ích các bên liên quan. Kết quả này cho thấy nhà nghiên cứu đã nhận thức rộng hơn về khái niệm QTCT và rõ ràng hơn về mối quan hệ với các bên liên quan (Wanyama và cộng sự 2013). Không những thế, Allen và cộng sự (2005) còn kết luận rằng mối quan hệ với các bên liên quan sẽ mang lại lợi ích cho các nước đang phát triển.
Có thể thấy, định nghĩa của OECD (2004) đã được các nghiên cứu thừa nhận rộng rãi vì nó mang đến tính toàn diện và bao quát toàn bộ khuôn khổ QTCT. Theo đó “Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các cổ đông cũng như các bên liên quan khác”. QTCT tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát hoạt động của công ty. QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải 11 tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng nguồn lực 1 cách tốt hơn”.
Tóm lại, QTCT thường xoay quanh một số đặc điểm phổ quát, bao gồm đảm bảo tính chịu trách nhiệm đối với cổ đông và các bên liên quan khác (Keasy và cộng sự, 1997), tạo ra các cơ chế để kiểm soát hành vi quản lý (Tricker, 1994), đảm bảo rằng các công ty được điều hành theo luật và phải chịu trách nhiệm trước tất cả các bên liên quan (Dunlop, 1998), đảm bảo việc xây dựng hệ thống báo cáo sao cho việc quản trị tốt được thúc đẩy (Kendall, 1999), xây dựng một quy trình chiến lược hiệu quả mà tích hợp lợi ích của các bên liên quan cũng như lợi ích của cổ đông (Tricker, 1994; Kendall, 1999), và nâng cao tính chịu trách nhiệm và hiệu suất doanh nghiệp (Keasy và Wright, 1997).Tính lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm soát, minh bạch và tính chịu trách nhiệm nằm ở trung tâm của quản trị công ty (CG) có hiệu quả và đáng tin cậy (Huse, 2005; Vanden Berghe and Louche, 2005). HĐQT là đại diện cho cổ đông, chịu trách nhiệm trước các cổ đông về hoạt động của công ty, có trách nhiệm giải trình trước Ban Kiểm soát về tình hình tài chính và tính hợp pháp trong các hành động của mình 1. Khái niệm Hội đồng quản trị Thông thường, khả năng của các cổ đông khi tác động trực tiếp tới việc điều hành, quyết định sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp là rất ít. Thay vào đó, những người quản lý điều hành chuyên nghiệp (Ban điều hành - Board of Management) sẽ đảm nhiệm nhiệm vụ này thay cho các cổ đông.
Cũng từ đó, bởi sự tách biệt giữa những người sở hữu (cổ đông) và những người điều hành công ty (Ban điều hành) có thể làm nảy sinh những xung đột về lợi ích của hai bên khi mà người quản lý, điều hành có thể hành động một cách cá nhân ưu tiên những lợi ích của mình thay vì tối đa hóa lợi ích của cổ đông. Do vậy, Hội đồng quản trị công ty (Board of Directors) là những người đại diện cho cổ đông nhằm thực hiện nghĩa vụ giám sát hoạt động của công ty nhằm giảm xung đột về lợi ích cá nhân cũng như bảo vệ lợi ích cao nhất cho cổ đông và các nhà đầu tư khi họ quyết định rót vốn cũng như tài sản vào một công ty. Từ điển thuật ngữ Investopedia định nghĩa HĐQT công ty là những người được bầu ra hoặc lựa chọn bởi cổ đông để thay mặt họ quyết định chiến lược, kế hoạch phát 12 triển và những vấn đề lớn khác của công ty.