Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vùng đất Tây Nguyên giữ một vị trí địa chiến lược và địa quân sự đặc biệt quan trọng trên bán đảo Đông Dương. Về mặt lịch sử và văn hóa, đây là khu vực lưu giữ nhiều giá trị truyền thống bản địa cổ đại của vùng Đông Nam Á, với nếp sống văn hóa thuần phác của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Trải qua các thời kỳ lịch sử, Tây Nguyên từng mang nhiều tên gọi và quy chế quản lý hành chính khác nhau như châu Thượng Nguyên, Cao nguyên Trung Kì, Cao nguyên Trung Bộ, Hoàng triều Cương thổ và Cao nguyên Trung phần.

Trong bối cảnh nghiên cứu lịch sử phát triển theo hướng đan xen và liên ngành, việc phục dựng có hệ thống nguồn gốc lịch sử, diện mạo chính trị, xã hội và các phong trào đấu tranh của cư dân Tây Nguyên là yêu cầu cấp thiết. Đề tài khóa luận "Vùng đất Tây Nguyên giai đoạn 1858 - 1954" do sinh viên Ngô Thị Quỳnh Chi thực hiện (chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, năm 2018 dưới sự hướng dẫn của TS. Trương Anh Thuận) nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học sau:

  1. Bước đầu tìm hiểu và khôi phục bức tranh toàn cảnh về lịch sử vùng đất Tây Nguyên giai đoạn 1858 – 1954, một giai đoạn biến động lớn của lịch sử dân tộc.
  2. Đưa ra các nhận định, đánh giá khách quan về diễn biến lịch sử, vị trí chiến lược và sự chuyển biến xã hội của Tây Nguyên dưới tác động của quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Pháp.
  3. Cung cấp thêm nguồn tư liệu khoa học, góp phần làm sáng tỏ lịch sử Tây Nguyên từ nguồn gốc đến hiện đại, đồng thời làm nổi bật tinh thần đoàn kết giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số với người Kinh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
  • Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử vùng đất Tây Nguyên, bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
  • Phạm vi không gian: Khu vực địa lý Tây Nguyên gồm 5 tỉnh xếp theo thứ tự từ Bắc xuống Nam (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1858 (thời điểm thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam) đến năm 1954 (kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với Hiệp định Giơ-ne-vơ).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ sử học mác-xít và các quan điểm địa chính trị học. Tác giả vận dụng các khái niệm và thiết chế lịch sử như: thiết chế xã hội truyền thống của người Thượng (công xã nông thôn buôn/làng, liên minh làng Tơ Rinh), quyền lực của các thủ lĩnh tôn giáo bản địa (Patau Ia - Vua Nước, Patau Pui - Vua Lửa / Thủy xá, Hỏa xá), chế độ mẫu hệ; cùng các thiết chế chính trị - hành chính do thực dân Pháp và chính quyền phong kiến xác lập (Pays Montagnard du Sud Indochinois - PMSI, Hoàng triều Cương thổ).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ đạo cùng các phương pháp hỗ trợ liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện, hiện tượng, quá trình thâm nhập của phương Tây và các phong trào cách mạng theo đúng trình tự thời gian và không gian cụ thể.
  • Phương pháp lôgic: Khái quát bản chất các biến đổi kinh tế - xã hội, phân tích mối quan hệ giữa chính sách cai trị của ngoại bang và phản ứng của các tầng lớp dân cư.
  • Phương pháp thống kê: Sắp xếp, phân loại và hệ thống hóa các nguồn số liệu về dân số, đơn vị hành chính và phong trào đấu tranh.
  • Phương pháp quan sát khoa học và điền dã: Trực tiếp khảo sát thực địa tại các địa bàn Tây Nguyên để thu thập thông tin, kiểm chứng và đối chiếu độ chính xác của các nguồn tư liệu.
  • Phương pháp phỏng vấn và chuyên gia: Tiếp cận các nhân chứng lịch sử, người cao tuổi, già làng, cán bộ văn hóa và tham vấn ý kiến chuyên môn của các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa địa phương.

Nguồn dữ liệu

Nghiên cứu khai thác hai nhóm tư liệu chính:

  1. Tư liệu thành văn: Các công trình nghiên cứu kinh điển về dân tộc học và lịch sử Tây Nguyên (của Jacques Dournes, Lê Cao Đài, Nguyễn Hữu Tranh, Tam Thái, Đỗ Hoàng Linh, Đỗ Thị Phận...), giáo trình chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo, bài giảng lịch sử địa phương và các tài liệu lưu trữ.
  2. Tư liệu điền dã, khảo sát thực tế: Ghi chép phỏng vấn nhân chứng, già làng tại các buôn làng và cán bộ chuyên trách tại 5 tỉnh Tây Nguyên.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về Tây Nguyên và lịch sử của vùng đất này trước năm 1858

Chương 1 khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân cư, văn hóa và diễn trình lịch sử của Tây Nguyên từ thời cổ đại đến trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược.

  • Điều kiện tự nhiên và dân cư: Tây Nguyên có diện tích tự nhiên khoảng 56.082 km² (chiếm 16,2% diện tích cả nước), độ cao trung bình 1.000 m so với mực nước biển, đỉnh cao nhất là núi Ngọc Linh (2.598 m). Khu vực có 8 loại đất chính, nổi bật là đất đỏ bazan; là nơi khởi nguồn của 28 con sông thuộc 3 hệ thống sông lớn (Đồng Nai, Mê Kông, sông Ba) với ba dòng chính là Sê San, Sêrêpốc và sông Ba. Dân cư là khối cộng đồng đa dân tộc, sinh sống đan xen và có sự biến động lớn về cơ cấu qua các giai đoạn.
Thời điểm Tổng dân số Cơ cấu người Kinh Cơ cấu các dân tộc thiểu số
Đầu thập niên 1960 Khoảng 760.000 người 36% 64% (Ba Na, Ê Đê, Cơ Ho, Xơ Đăng, M'nông...)
Năm 2002 Gần 4.500.000 người (tại 4 tỉnh) Khoảng 3.500.000 người Gia Rai (355.432), Ê Đê (233.626), Ba Na (174.134), Cơ Ho (133.089), Tày (92.293), Xơ Đăng (86.910), Nùng (84.864), Mạ (33.164)...
  • Đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa: Nền kinh tế mang tính tự cung tự cấp, phụ thuộc tự nhiên. Canh tác nương rẫy (rẫy bằng, rẫy dốc, ruộng chờ mưa) giữ vai trò chủ đạo; tập quán canh tác 1 đến 3-4 vụ rồi bỏ hóa 10-15 năm, diện tích luân canh gấp 8-10 lần diện tích canh tác hàng năm. Nghề săn bắt voi (M'nông, Xtiêng), bò tót (Gia Rai, Ba Na) và các nghề thủ công gia đình phát triển. Thiết chế xã hội cơ sở là làng (Plây, Kon, Plơi, Bôn), đứng đầu là già làng; trung tâm sinh hoạt cộng đồng là Nhà rông (hoặc Gởn của người Cơ Tu). Đời sống tâm linh tôn sùng thần linh (Giàng) và sự chi phối của các thủ lĩnh tín ngưỡng Patau Ia (Vua Nước) và Patau Pui (Vua Lửa).
  • Lược sử Tây Nguyên trước 1858:
    • Từ đầu công nguyên đến thế kỷ XV: Cư dân cổ thuộc đại chủng Ôxtralôit hòa huyết Môngôlôit; người M'nông thuộc ngữ hệ Môn-Khmer và nhóm Malayô-Pôlinêxia (Ê Đê, Gia Rai, Chăm). Tây Nguyên lần lượt chịu sự tác động/thống trị của Phù Nam (thế kỷ I-V), Chân Lạp (từ thế kỷ VI) và Chiêm Thành (thế kỷ VII-XV). Mối quan hệ với Đại Việt được xác lập sớm: năm 1149 vua Lý Anh Tông giúp đỡ nghĩa quân Ê Đê - Gia Rai; năm 1384 tù trưởng Tây Nguyên triều cống vua Trần.
    • Từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX: Năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập nước Nam Bàn (phiên thuộc Đại Việt). Năm 1540, vua Lê phong vương cho Thủy xá và Hỏa xá, cử Bùi Tá Hán kinh lý mở mang giao thương. Thời Tây Sơn, An Khê trở thành căn cứ địa với các đội tượng binh thiện chiến. Thời Nguyễn, vua Gia Long đặt Trấn Man (gồm 4 nguồn: Thanh Bồng, Cù Và, Phù Bà, Ba Tơ), sai Lê Văn Duyệt đắp lũy Bình Man dài 37.479 trượng (khoảng 120 km) với 150 đồn; triều đình đồng thời phải đối phó với phong trào khởi nghĩa Đá Vách (1804) và các cuộc xâm lấn của quân Xiêm La (1827).

Chương 2: Lịch sử vùng đất Tây Nguyên giai đoạn 1858 – 1954

Chương này tập trung tái hiện quá trình xâm lược, thiết lập bộ máy cai trị của thực dân Pháp, sự hình thành các tổ chức Đảng Cộng sản và diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tại Tây Nguyên.

  • Quá trình xâm nhập của các đoàn truyền giáo và thám hiểm phương Tây:

    • Từ năm 1838, thừa sai Taberd đã vẽ bản đồ địa hình Tây Nguyên. Giai đoạn 1851 - 1857, các thừa sai Bouillevaux, Fontaine, Azema lập giáo đường Tinh Sư (vùng M'nông Bu Tông) và giáo đường Bralam (1859, vùng người Xtiêng). Trung tâm truyền giáo Kon Tum được xác lập. Nhân dân bản địa đã nhiều lần nổi dậy chống lại việc can thiệp tôn giáo gắn với xâm lược thực dân (phá giáo đường Tinh Sư, Bralam; các cuộc đấu tranh năm 1848, 1862, tháng 3/1877 của người Ba Na, Xơ Đăng).
    • Các đoàn thám hiểm và công cán quân sự: Henri Mouhot (1859), Gautier (1882). Ngày 06/01/1885, đoàn Navelle bị phục kích tại Plâytiô. Năm 1888, Mayrena lập "vương quốc Xê-đăng" tự phong Mari I nhưng thất bại. Giai đoạn 1890 - 1891, lực lượng thám báo quân sự do Auguste Pavie chỉ huy cùng cánh quân Cupet, Cogniard đã tấn công đánh bật chỉ huy quân Xiêm Lương Sa Khôn khỏi Bản Đôn (23/03/1891). Hiệp ước Pháp - Xiêm ngày 30/10/1893 sáp nhập Tây Nguyên vào Hạ Lào. Ngày 16/10/1898, Khâm sứ Boulloche ép triều đình Huế nhượng toàn bộ quyền kinh tế và an ninh Tây Nguyên cho Pháp.
    • Về sau, nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, ngày 27/05/1946, Pháp lập ra Xứ Thượng Miền Nam Đông Dương (PMSI), mở trường Collège Sabatier (Buôn Ma Thuột) và Lycée Yersin (Đà Lạt) để đào tạo lực lượng phục vụ cho ách cai trị.
  • Phong trào đấu tranh và sự ra đời của các chi bộ Đảng Cộng sản:

    • Tiêu biểu là phong trào "Nước xu đỏ" do tù trưởng Săm Brăm lãnh đạo lan rộng khắp các tỉnh Tây Nguyên xuống Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (Săm Brăm bị bắt năm 1938); phong trào của N'Yan (chiến khu Yang Rinh), Mụ Cọ (Di Linh), K'Hoair (Đức Trọng), Ông Đăng, Già Mết, Yang Rẫy; phong trào học sinh, công chức Ê Đê do Y Ut và Y Jut lãnh đạo (1925-1926, 1942-1943) buộc công sứ Sabatier phải rút lui.
    • Các chi bộ Đảng Cộng sản lần lượt ra đời: Chi bộ Đà Lạt (tháng 4/1930), Chi bộ Kon Tum (tháng 9/1930). Pháp lập hệ thống nhà tù lớn: Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Đắk Tô, Đắk Mil. Tù chính trị đã biến nhà tù thành trường học cách mạng. Nổi bật là cuộc đấu tranh tuyệt thực tại ngục Kon Tum ngày 12 và 16/12/1941 khiến các đồng chí Nguyễn Huy Lung, Trương Quang Trọng cùng nhiều đảng viên hy sinh.
    • Tháng 3/1940, Chi bộ Bầu Cạn (Kon Tum) thành lập gồm 3 đồng chí: Trần Ren, Phạm Thị Út, Lâm Thị Nở, lãnh đạo 30 cuộc bãi công của công nhân đồn điền. Tại Lâm Viên, phong trào được khôi phục qua nhóm Tiến bộ, hiệu sách Hồng Nhật (Hồ Nhã Tránh), HTX Élégants Chaussures (Trần Đăng Lâm); các chi bộ Đà Lạt được tái lập vào tháng 12/1938 (do Nguyễn Văn Chí phụ trách) và ngày 24/04/1942 (do Võ Văn Đăng làm bí thư).
  • Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại Tây Nguyên:

    • Tại Đắk Lắk: Tháng 5/1945, Ban lãnh đạo lâm thời tỉnh thành lập do Phạm Kiệm làm trưởng ban. Ngày 17/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi tại đồn điền Cada mở màn cho tổng khởi nghĩa toàn tỉnh. Đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Đắk Lắk thành lập (Phạm Kiệm - trưởng ban, Phạm Sĩ Vinh - phó ban). Ngày 20/8/1945, đàm phán vô hiệu hóa quân Nhật và xóa bỏ bộ máy Trần Trọng Kim. Ngày 24/8/1945, cuộc mít tinh với hơn 3.000 đồng bào các dân tộc và 500 lính bảo an biến thành cuộc biểu tình tuần hành, xác lập hoàn toàn chính quyền cách mạng.
    • Tại Lâm Viên và Đồng Nai Thượng: Đêm 21/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa Lâm Viên thành lập (Phan Đức Huy làm chủ tịch). Khởi nghĩa nổ ra thắng lợi tại Cầu Đất (21/8), Đơn Dương (22/8), Di Linh (23/8). Ngày 24/8/1945, UBND cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên ra mắt; ngày 28/8/1945, đồng bào Di Linh khởi nghĩa thành công, lập UBND cách mạng tỉnh Đồng Nai Thượng.
    • Tại Gia Lai - Kon Tum: Các tổ chức Thanh niên Plâyku, Chấn Hưng An Khê, Cheo Reo làm nòng cốt. Sáng ngày 23/8/1945, cuộc mít tinh của hơn 10.000 quần chúng tại sân vận động Plâyku đã xóa bỏ chính quyền tay sai. Đêm 23/8/1945, Ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh Gia Lai được thành lập tại dinh Quản Đạo.

Kết quả và đóng góp

  1. Kết quả nghiên cứu chính:

    • Hệ thống hóa toàn bộ diễn trình lịch sử vùng đất Tây Nguyên từ thời tiền sử, sơ sử đến năm 1954; phân tích rõ vị trí địa - quân sự với diện tích 56.082 km², hệ thống 28 con sông và cấu trúc thổ nhưỡng 8 nhóm đất.
    • Thống kê, phục dựng chi tiết tiến trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân Pháp qua các hiệp ước (Hiệp ước Pháp - Xiêm 1893, văn bản chuyển giao của Khâm sứ Boulloche 1898) và các thiết chế cai trị đặc thù (PMSI 1946, Hoàng triều Cương thổ).
    • Làm rõ quá trình hình thành hạt giống cách mạng, vai trò của hệ thống nhà đày thực dân (Buôn Ma Thuột, Kon Tum) và các chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên (Đà Lạt 4/1930, Kon Tum 9/1930, Bầu Cạn 3/1940).
    • Tái hiện sinh động từng mốc thời gian, địa điểm và nhân sự lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tại từng tỉnh lỵ, đồn điền trên địa bàn Tây Nguyên.
  2. Đóng góp của đề tài:

    • Là công trình nghiên cứu tổng hợp ở bậc đại học bước đầu khái quát hóa và hệ thống hóa lịch sử 5 tỉnh Tây Nguyên qua một giai đoạn lịch sử đầy biến động (1858 - 1954).
    • Bổ sung nguồn tư liệu lịch sử - văn hóa địa phương phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử.
    • Khẳng định truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất và củng cố khối đại đoàn kết giữa các dân tộc bản địa Tây Nguyên với cộng đồng người Kinh trong tiến trình dựng nước và giữ nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tài liệu thành văn viết riêng về từng địa phương Tây Nguyên trong giai đoạn 1858 - 1954 còn tản mác; việc tiếp cận các nguồn tư liệu lưu trữ sơ cấp tiếng Pháp cũng như các nhân chứng lịch sử lớn tuổi còn gặp rào cản về thời gian và điều kiện thực địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khai thác sâu hơn khối tư liệu lưu trữ thời kỳ thuộc địa của Pháp về quy chế hành chính PMSI; mở rộng nghiên cứu về giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp tái chiếm (1946 - 1954) tại các chiến trường vùng sâu, vùng căn cứ du kích Tây Nguyên; đánh giá cụ thể hơn sự chuyển dịch cơ cấu xã hội của công nhân đồn điền cao su, cà phê qua các thời kỳ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Giảng viên, sinh viên các chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Cử nhân Lịch sử, Dân tộc học, Văn hóa học.
    • Giáo viên lịch sử tại các trường phổ thông thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên sử dụng làm tài liệu biên soạn nội dung giáo dục lịch sử địa phương.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:
    • Hệ thống tư liệu về các đoàn thám hiểm quân sự, truyền giáo phương Tây cuối thế kỷ XIX.
    • Dữ liệu chi tiết về nhân sự, địa điểm thành lập các chi bộ Đảng bí mật và các sự kiện đấu tranh tại nhà ngục Buôn Ma Thuột, Kon Tum.
    • Biên niên sự kiện diễn biến Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại từng tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng).

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "Xứ Thượng Miền Nam Đông Dương" (PMSI) và "Hoàng triều Cương thổ" gắn với bối cảnh lịch sử nào tại Tây Nguyên?

Ngày 27/05/1946, chính quyền thực dân Pháp lập ra Xứ Thượng Miền Nam Đông Dương (PMSI) nhằm tách biệt quyền cai trị người Thượng khỏi người Kinh ở đồng bằng, áp dụng quy chế tòa án phong tục và giáo dục riêng. Đến thời chính thể Quốc gia Việt Nam (1948), Quốc trưởng Bảo Đại chuyển các tỉnh cao nguyên thành khu vực hành chính đặc biệt mang tên Hoàng triều Cương thổ, nơi Bảo Đại vẫn duy trì tư cách hoàng đế.

2. Cuộc khởi nghĩa "Nước xu đỏ" do ai lãnh đạo và diễn ra trong phạm vi nào?

Cuộc khởi nghĩa "Nước xu đỏ" do tù trưởng Săm Brăm lãnh đạo vào những năm 1930, xác định rõ phương pháp và mục tiêu giải phóng dân tộc. Phong trào lan rộng khắp ba tỉnh Tây Nguyên rồi lan xuống các tỉnh đồng bằng gồm Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Năm 1938, Săm Brăm bị Pháp bắt và giam giữ 5 năm tại Đắk Lắk.

3. Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Tây Nguyên được thành lập vào thời điểm nào?

Các chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Tây Nguyên được thành lập ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, cụ thể gồm: Chi bộ Đà Lạt thành lập vào tháng 4/1930 và Chi bộ Kon Tum thành lập vào tháng 9/1930.

4. Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại Đắk Lắk diễn ra theo trình tự nào?

Khởi nghĩa mở màn tại đồn điền Cada ngày 17/8/1945 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Phạm Kiệm. Đêm 19/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh được thành lập. Ngày 20/8/1945, Việt Minh thương thuyết trung lập hóa quân đội Nhật và lật đổ chính quyền Trần Trọng Kim. Đến chiều ngày 24/8/1945, cuộc mít tinh trọng thể tại sân vận động thị xã Buôn Ma Thuột với hơn 3.000 đồng bào và 500 lính bảo an đã chính thức xác lập chính quyền cách mạng toàn tỉnh.

5. Thiết chế "Patau Ia" và "Patau Pui" trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền phản ánh điều gì?

Patau Ia (Vua Nước / Thủy xá) và Patau Pui (Vua Lửa / Hỏa xá) ban đầu là các thầy mo người Gia Rai có uy tín tâm linh lớn trên lưu vực Ea H'leo và thung lũng Ayun. Dần dần, họ trở thành thủ lĩnh tối cao của các liên minh bộ lạc rộng lớn, giữ quyền lực ngoại giao và từng tiếp nhận cống phẩm, sắc phong từ các vương quốc lân cận như Chân Lạp, Chiêm Thành và các triều đại phong kiến Việt Nam (Lê, Nguyễn).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Quỳnh Chi đã hoàn thành việc tái hiện một cách hệ thống, khách quan bức tranh lịch sử vùng đất Tây Nguyên từ cội nguồn đến năm 1954, tập trung vào giai đoạn đấu tranh chống thực dân Pháp. Công trình làm rõ các đặc trưng địa lý, kinh tế - xã hội truyền thống, các âm mưu chia rẽ sắc tộc của chủ nghĩa thực dân và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cao trào cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị tư liệu xác thực cho nghiên cứu và giảng dạy lịch sử khu vực Tây Nguyên.