Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Phản ứng của nhân dân Nam Kỳ đối với thực dân Pháp trong nửa cuối thế kỷ XIX", chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 62 22 03 13), được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nam Kỳ (Nam Kỳ Lục tỉnh gồm Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) giữ vị trí chiến lược và là nơi cung cấp lúa gạo chủ yếu cho triều đình nhà Nguyễn. Khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Gia Định vào tháng 2-1859, nhân dân Nam Kỳ đã lập tức đứng lên kháng chiến. Mặc dù các công trình sử học trước đây đã khảo cứu nhiều về phong trào kháng Pháp giai đoạn 1858–1884, các phong trào đấu tranh vũ trang và phi vũ trang giai đoạn 1884–1900 tại Nam Kỳ chủ yếu mới chỉ xuất hiện rải rác ở các bài viết đơn lẻ. Chưa có công trình nào tổng kết một cách toàn diện và có hệ thống về các dạng thức phản ứng phi vũ trang mang tính đặc thù của vùng đất Nam Bộ (như phong trào phá đường dây điện báo, phong trào chống bắt lính, hoạt động nghị trường của các nghị viên người Việt trong Hội đồng thuộc địa). Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống học thuật này trên cơ sở khai thác có hệ thống khối tư liệu công báo thời thuộc địa tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là dựng lại bức tranh lịch sử về thái độ và hành động kháng cự của các tầng lớp nhân dân Nam Kỳ trước cuộc xâm lược và chính sách cai trị của thực dân Pháp nửa cuối thế kỷ XIX, từ đó đúc kết bài học lịch sử về việc phát huy sức dân trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Phân tích các yếu tố khách quan tác động đến phong trào kháng Pháp của nhân dân Nam Kỳ, bao gồm đường lối, chính sách của triều đình nhà Nguyễn và chính sách cai trị của thực dân Pháp.
  2. Khảo cứu phong trào đấu tranh vũ trang (tập trung vào giai đoạn 1884–1900) và các hình thức đấu tranh phi vũ trang tiêu biểu (phong trào phá đường dây điện báo, phong trào phản đối chính sách binh dịch).
  3. Làm rõ hoạt động đấu tranh của các nghị viên người Việt trong Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ nhằm bảo vệ quyền lợi dân sinh và dân chủ cho người bản xứ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phong trào đấu tranh vũ trang và phi vũ trang chống thực dân Pháp của các tầng lớp nhân dân Nam Kỳ (địa chủ, nông dân, thợ thủ công, thương nhân, trí thức, nghị viên người Việt) trong nửa cuối thế kỷ XIX.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ vùng đất Nam Kỳ (Lục tỉnh Nam Bộ) thời thuộc Pháp.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 1859 (khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định) đến năm 1900; có mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1859 và sau năm 1900 để xác định bối cảnh và tính tiếp nối của phong trào.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào hai nhánh phản ứng chính là đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang; không khảo cứu phong trào đấu tranh của tù nhân, chính trị phạm trong các nhà tù thực dân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành phân loại và điểm luận các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài:

Các hướng nghiên cứu của tác giả nước ngoài

  • Nhóm nghiên cứu về địa lý, hành chính, kinh tế - xã hội Nam Kỳ: Bao gồm các công trình của Baudrit (Notice sur la Basse Cochinchine 1867–1916), Aurillac (La Cochinchine, 1870), J.C Baurac (La Cochinchine et ses habitants. Provinces de l’Ouest, 1894), Martini (La Cochinchine, 1931), Gourou (L’utilisation du sol en Indochine française, 1940), De Bascher (Monographie de la province de Cholon). Đặc biệt là dự án gồm 23 tập chuyên khảo địa chí các tỉnh Nam Kỳ do Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des Études Indochinoises) xuất bản từ năm 1901 đến năm 1951 (tiêu biểu như các tập của M. Robert, Victor Duvernoy, Louis Girerd, Lê Thành Tường, Nguyễn Văn Hải) và hồi ký Xứ Đông Dương (Situation de l'Indochine) của Toàn quyền Paul Doumer.
  • Nhóm nghiên cứu về quá trình xâm lược và thiết lập chế độ thuộc địa: Léopold Pallu (Histoire de L’Expédition de Cochinchine en 1861, 1864) ghi chép sớm về khởi nghĩa Trương Định; Prosper Cultru (Histoire de la Cochinchine française: des origines à 1883, 1910); Philippe Devillers (Au Sud Vietnam …il y a cent ans, 1966); David George Marr (Vietnamese Anticolonialism 1885-1925, 1971); Yoshiharu Tsuboi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, 1990); cùng các công trình của P. Vial (1874–1889), Louvet (1885), De Lanessan (1895, 1907) và các bài viết trên tập san BSEI, BAVH.

Các hướng nghiên cứu của tác giả Việt Nam

  • Nhóm nghiên cứu về lịch sử và văn hóa vùng đất Nam Bộ: Sơn Nam (Tìm hiểu đất Hậu Giang, 1959; Lịch sử khẩn hoang miền Nam, 1973); Nguyễn Văn Hầu (Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, 1972); bộ sách Nam Bộ đất và người (Hội Khoa học Lịch sử TP. Hồ Chí Minh, 2002–2022); Trần Đức Cường, Võ Sĩ Khải, Nguyễn Đức Nhuệ, Lê Trung Dũng (Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam bộ (Từ khởi thủy đến năm 1945), 2014); Nguyễn Đình Tư (Địa chí hành chính các tỉnh Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1859 - 1954), 2017); Vũ Minh Giang (Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, 2019).
  • Nhóm nghiên cứu về giai đoạn Pháp xâm lược và đô hộ: Nguyễn Xuân Thọ (Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897)); Nguyễn Phan Quang (Việt Nam cận đại những sử liệu mới, 1995; Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884), 2002); Trần Văn Giàu (Chống xâm lăng, 2001; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, 2020); Cao Huy Thuần (Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), 2003); Nguyễn Đình Tư (Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ (1859- 1954), 2016); Đinh Xuân Lâm (1993); Vũ Thanh Sơn (2012).
  • Nhóm nghiên cứu về thái độ, hành trạng của quan chức và sĩ phu: Các công trình nghiên cứu về Phan Thanh Giản của Nam Xuân Thọ (1957), Trần Huy Liệu (1963), Nguyễn Duy Oanh (1974), Trương Bá Cần, Hoàng Lại Giang, Dương Trung Quốc (1999); các công trình nghiên cứu về văn thơ ái quốc của Phan Văn Trị của Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Quảng Tuân (1986) và kỷ yếu hội thảo năm 2020.
  • Nhóm nghiên cứu về các cuộc khởi nghĩa và nhân vật lịch sử: Nguyễn Phan Quang và Lê Hữu Phước (Khởi nghĩa Trương Định, 1989); Nguyễn Hữu Hiếu, Lê Kim Hoàng, Ngô Bé, Trương Ngọc Tường (Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười, 2005); Giang Minh Đoán (1991), Lê Quang Khải (2000, 2008), Nguyễn Văn Khoa (2001) về anh hùng Nguyễn Trung Trực; Phạm Thiều, Cao Tự Thanh, Lê Minh Đức (1986), Huỳnh Minh (2006) về Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân; luận án tiến sĩ của Đặng Thị Huế (Phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn 1885-1918, 2021).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Luận án kế thừa các sự kiện lịch sử về phong trào vũ trang giai đoạn 1859–1884, đồng thời tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu về phong trào vũ trang và phi vũ trang giai đoạn 1884–1900. Đề tài trực tiếp khai thác nguồn tài liệu công báo xuất bản tại Nam Kỳ nửa cuối thế kỷ XIX để phục dựng có hệ thống các phong trào đấu tranh phi vũ trang đặc thù chưa được khảo cứu đầy đủ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích sự vận động của phong trào yêu nước trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, xem xét sự chuyển biến tính chất đấu tranh từ lập trường "trung quân ái quốc" sang khuynh hướng "ái quốc" thuần túy khi triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng thực dân Pháp.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình đấu tranh chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ từ năm 1859 đến năm 1900 theo trật tự thời gian và bối cảnh cụ thể.
  • Phương pháp logic: Phân tích bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ nhân quả giữa chính sách của chính quyền (nhà Nguyễn, thực dân Pháp) và phản ứng của các giai tầng xã hội Nam Kỳ.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức lịch sử với văn học (phân tích văn thơ yêu nước), luật học và khoa học chính trị (nghiên cứu hoạt động nghị trường).
  • Phương pháp thống kê và tổng hợp: Hệ thống hóa các số liệu về chính sách khen thưởng, trợ cấp, quy mô đồn trú, các sắc lệnh binh dịch từ tài liệu lưu trữ và chính sử.
  • Phương pháp so sánh lịch sử: Đối chiếu các giai đoạn đấu tranh trước và sau năm 1884, so sánh hình thức đấu tranh vũ trang và phi vũ trang.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa tại các địa phương ghi dấu ấn căn cứ, di tích lịch sử và truyền thuyết dân gian về các thủ lĩnh nghĩa quân.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Nguồn tài liệu lưu trữ gốc: Khối tài liệu công báo thời thuộc địa (Bulletin officiel de la Cochinchine française, Bulletin administratif de la Cochinchine) lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh).
  2. Chính sử triều Nguyễn: Các bộ sách do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam chính biên liệt truyện.
  3. Các công trình nghiên cứu và tài liệu khảo cứu: Sách chuyên khảo, bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo của các tác giả trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Chương 1 phân tích toàn diện tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai khối: tác giả nước ngoài và tác giả Việt Nam. Luận án chỉ ra rằng các công trình tiếng Pháp thời thuộc địa thường mang mục đích phục vụ công cuộc cai trị hoặc biện minh cho chiến tranh xâm lược, trong khi các công trình nghiên cứu hiện đại của phương Tây và Nhật Bản (như David Marr, Yoshiharu Tsuboi) chủ yếu tập trung vào bình diện chính trị, ngoại giao hoặc phong trào ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ. Về phía các nhà nghiên cứu Việt Nam, các tác phẩm của Trần Văn Giàu, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Đình Tư... đã cung cấp nền tảng sử liệu vững chắc về các cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn và cơ cấu hành chính thuộc địa, song mảng tư liệu công báo về các hình thức đấu tranh phi vũ trang cuối thế kỷ XIX vẫn chưa được khai thác triệt để. Từ đó, chương 1 xác định rõ các nội dung kế thừa và nhiệm vụ học thuật mà luận án tập trung thực hiện.

CHƯƠNG 2. NHÂN DÂN NAM KỲ ĐẤU TRANH VŨ TRANG CHỐNG PHÁP NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

Chương 2 trình bày tiến trình xâm lược Nam Kỳ của thực dân Pháp và phong trào đấu tranh vũ trang của quân dân Nam Kỳ qua hai giai đoạn:

Chiến sự Đà Nẵng (1-9-1858) ➔ Tấn công Cần Giờ / Gia Định (2-1859) ➔ Trận Đại đồn Chí Hòa (2-1861) ➔ Chiếm Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long (1861-1862) ➔ Hiệp ước Nhâm Tuất (5-6-1862)
  • Các yếu tố tác động đến phong trào:
    • Yếu tố chủ quan: Truyền thống yêu nước hình thành từ công cuộc khẩn hoang; truyền thống đoàn kết hỗn dung giữa các tộc người (người Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, Mạ, Xtiêng, Chơ Ro); tính cách nghĩa hiệp, khẳng khái của người dân phương Nam; sự phối hợp chiến đấu tiêu biểu giữa nghĩa quân người Việt và người Khmer dưới sự chỉ huy của Trương Quyền và nhà sư Pu Kom Pô dọc biên giới Tây Ninh – Campuchia.
    • Yếu tố khách quan: Các chính sách của triều đình Huế. Về chính trị, vua Tự Đức ban chỉ dụ kêu gọi tìm người hiền tài, động viên sĩ dân chế tạo vũ khí; về quân sự, quy định chế độ tập luyện, chính sách khen thưởng và hình phạt nghiêm minh; về xã hội, thực hiện các biện pháp an dân như miễn thuế cho các xã thôn bị tàn phá (năm 1860–1862), xuất thóc kho phát chẩn cứu đói tại An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long (năm 1863–1864); về tôn giáo, ban hành chính sách cấm và chia ghép người theo đạo Gia tô rất nghiêm ngặt (sau Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 mới bãi bỏ).
Mức độ chiêu mộ nghĩa dõng Chức phẩm / Bằng cấp triều đình ban thưởng (Đại Nam thực lục)
Chiêu mộ từ 10 tên dõng Cấp bằng Cửu phẩm bá hộ
Chiêu mộ từ 20 tên dõng Cấp bằng Tòng bát phẩm bá hộ
Chiêu mộ từ 30 tên dõng Cấp bằng Đội trưởng (trật Tòng thất phẩm)
Chiêu mộ từ 40 tên dõng Cấp bằng Chánh đội trưởng (trật Tòng lục phẩm)
Chiêu mộ từ 50 tên dõng Cấp bằng Chánh đội trưởng Suất đội (trật Tòng ngũ phẩm)
Chiêu mộ đủ 500 tên dõng Thưởng thụ Quản cơ (trật Chánh tứ phẩm)
Chiêu mộ từ 2–3 cơ (một đạo quân) Đợi chỉ cất nhắc lên bậc cao hơn
Thu phục lại một phủ/huyện hoặc tỉnh thành Bổ nhiệm chức Phủ/Huyện đó; phong tước chia đất đời đời kế tập
  • Tiến trình đấu tranh vũ trang qua hai giai đoạn:
    • Giai đoạn 1859–1884: Các cuộc nổi dậy quy mô lớn do Trương Định (Gò Công), Nguyễn Trung Trực (đốt tàu L'Espérance ngày 10-12-1861 trên sông Nhật Tảo, đánh úp đồn Rạch Giá), Võ Duy Dương (căn cứ Đồng Tháp Mười), Nguyễn Hữu Huân (Định Tường) lãnh đạo.
    • Giai đoạn 1884–1900: Hoạt động của những người yêu nước Nam Kỳ tỵ địa ra Bình Thuận; các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương từ năm 1885 đến năm 1896 (tiêu biểu là phong trào của Phan Văn Hớn tại Mười tám thôn Vườn Trầu, khởi nghĩa của Ngô Lợi cùng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tại vùng Thất Sơn - An Giang).

CHƯƠNG 3. NHÂN DÂN NAM KỲ ĐẤU TRANH PHI VŨ TRANG CHỐNG PHÁP NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

Chương 3 đi sâu làm rõ các hình thức phản kháng phi vũ trang dựa trên tài liệu công báo và văn bản lưu trữ:

  • Phong trào phá đường dây điện báo: Sau khi chiếm đóng Nam Kỳ, chính quyền thực dân thiết lập mạng lưới điện báo phục vụ mục đích quân sự và truyền đạt mệnh lệnh hành chính. Nhân dân tại nhiều địa phương đã liên tục tổ chức cắt phá dây đồng, nhổ cột điện báo, làm gián đoạn liên lạc của địch, buộc chính quyền thuộc địa phải ban hành hàng loạt nghị định xử phạt, bắt các làng xã dọc tuyến dây phải liên đới chịu trách nhiệm và cắt cử tuần tra canh gác.
  • Phong trào phản đối chính sách binh dịch: Khảo sát các quy định tuyển mộ lính bản xứ của thực dân Pháp và thái độ bất hợp tác của quần chúng nhân dân. Người dân Nam Kỳ đã sử dụng nhiều biện pháp trốn lính, bỏ trốn khỏi địa phương, bất tuân lệnh tòng quân nhằm làm thất bại âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt".
  • Đấu tranh trên mặt trận văn chương: Phản ánh qua hai dòng chảy: văn học dân gian (ca dao, hò, vè châm biếm quân xâm lược và tay sai) và văn học viết (các tác phẩm thơ ca yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, đặc biệt là cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường nhằm phê phán tư tưởng đầu hàng phản dân tộc).
  • Cuộc đấu tranh của các nghị viên người Việt trong Hội đồng thuộc địa: Phân tích chính sách sử dụng nhân viên bản xứ của Pháp và hoạt động nghị trường của các đại biểu người Việt. Dù không mang tính chất lật đổ chính quyền thuộc địa, các nghị viên người Việt đã tận dụng diễn đàn Hội đồng thuộc địa để phản đối chính sách thuế khóa bất công, yêu cầu giảm nhẹ gánh nặng cho dân nghèo, đòi quyền lợi kinh tế và giáo dục cho người bản xứ.

CHƯƠNG 4. NHẬN XÉT VỀ PHONG TRÀO CHỐNG PHÁP CỦA NHÂN DÂN NAM KỲ NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

Chương 4 tổng kết, đánh giá các đặc điểm mang tính quy luật của phong trào:

  • Về các yếu tố tác động: Sự suy yếu, thỏa hiệp của triều đình Huế qua các hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884 đã từng bước đẩy phong trào kháng chiến của nhân dân từ chỗ phối hợp với quan quân triều đình ("trung quân") chuyển dịch sang thế tự lực độc lập mang ý thức dân tộc sâu sắc ("ái quốc").
  • Về phong trào đấu tranh vũ trang: Phong trào diễn ra liên tục, quyết liệt, thể hiện tinh thần xả thân, vận dụng địa hình sông nước, đầm lầy hiểm trở; tuy nhiên về cuối thế kỷ XIX, quy mô các cuộc khởi nghĩa bị thu hẹp dần do chênh lệch vũ khí, sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp và sự khủng hoảng về đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến.
  • Về phong trào đấu tranh phi vũ trang: Khẳng định sự đa dạng, linh hoạt và tính quần chúng sâu sắc. Các hình thức phá hủy phương tiện viễn thông, chống quân dịch, đấu tranh tư tưởng qua văn chương và đấu tranh nghị trường đã bổ trợ hiệu quả cho phong trào vũ trang, thể hiện sức sống bền bỉ của tinh thần độc lập dân tộc ở vùng đất mới Nam Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt học thuật và tư liệu: Luận án đã khai thác và đưa vào sử dụng có hệ thống nguồn tài liệu công báo thời thuộc địa lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), kết hợp với các ghi chép biên niên trong Đại Nam thực lục để tái hiện bức tranh toàn cảnh về phản ứng của nhân dân Nam Kỳ trong nửa sau thế kỷ XIX.
  2. Đóng góp mới về nội dung khoa học:
    • Luận án đã phân loại và làm rõ hai nhánh phản ứng cơ bản: đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang.
    • Khảo cứu sâu sắc các phong trào phi vũ trang đặc thù ít được đề cập trước đây: phong trào cắt phá đường dây điện báo, phong trào trốn lính/chống tuyển mộ binh dịch và hoạt động đấu tranh dân sinh của nghị viên người Việt trong Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ.
    • Phân tích sự chuyển biến tư tưởng của phong trào từ trung quân sang ái quốc và vai trò liên kết giữa các cộng đồng tộc người (Kinh, Khmer, Hoa, Chăm) trong kháng chiến.
  3. Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử cụ thể phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại và lịch sử địa phương Nam Bộ trong hệ thống trường phổ thông, cao đẳng, đại học.
    • Đúc kết bài học lịch sử về quan điểm "lấy dân làm gốc", phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án xác định giới hạn thời gian kết thúc ở năm 1900 nên chưa thể trình bày sâu sắc sự chuyển biến về chất của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX sang khuynh hướng dân chủ tư sản (như phong trào Minh Tân hay các hội kín Nam Kỳ). Ngoài ra, do phạm vi đề tài, luận án không nghiên cứu phong trào phản kháng của các tù nhân, chính trị phạm trong các trại giam, nhà tù thực dân thời kỳ này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu các hình thức đấu tranh phi vũ trang sang giai đoạn 1900–1918; tiếp tục sưu tầm và xử lý các hồ sơ tư liệu tư pháp, nhà tù thuộc địa để làm rõ hơn diện mạo đấu tranh trong ngục tù thực dân Pháp tại Nam Kỳ nửa cuối thế kỷ XIX.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo về phương pháp tiếp cận tư liệu công báo tiếng Pháp và châu bản, chính sử triều Nguyễn khi nghiên cứu lịch sử Nam Bộ thời cận đại.
  • Đối với giảng viên và giáo viên phổ thông: Cung cấp nhiều cứ liệu lịch sử cụ thể về các nhân vật, sự kiện và hình thức đấu tranh phục vụ trực tiếp cho nội dung giáo dục lịch sử địa phương tại các tỉnh thành phía Nam.
  • Đối với người làm công tác quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ lịch sử thực tiễn về truyền thống đoàn kết đa dân tộc và bài học kinh nghiệm trong việc chăm lo đời sống nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia phản ứng của nhân dân Nam Kỳ đối với thực dân Pháp thành những hình thức cơ bản nào?
Luận án phân chia phản ứng thành hai nhánh chính: đấu tranh vũ trang (các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh du kích) và đấu tranh phi vũ trang (phong trào phá đường dây điện báo, chống chính sách binh dịch, đấu tranh văn chương và hoạt động nghị trường trong Hội đồng thuộc địa).

2. Chính sách của triều đình Tự Đức đối với người dân theo đạo Gia tô tại Nam Kỳ ở giai đoạn đầu kháng chiến diễn ra như thế nào?
Triều đình ban hành chính sách nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn việc thông đồng với giặc: giam giữ hào mục dân đạo, chia ghép dân đạo vào các làng không có đạo, thích chữ vào mặt, thu thuế thân nặng gấp đôi, xử tử những trường hợp làm gián điệp cho Pháp. Sau khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều đình mới bãi bỏ lệnh cấm này.

3. Triều đình nhà Nguyễn quy định định lệ ban thưởng như thế nào đối với người chiêu mộ dân dõng chống Pháp ở Nam Kỳ?
Theo Đại Nam thực lục, người mộ được từ 10 tên dõng được cấp bằng Cửu phẩm bá hộ, 20 tên cấp Tòng bát phẩm bá hộ, 30 tên phong Đội trưởng (Tòng thất phẩm), 40 tên phong Chánh đội trưởng (Tòng lục phẩm), 50 tên phong Chánh đội trưởng Suất đội (Tòng ngũ phẩm), mộ đủ 500 tên được thụ chức Quản cơ (Chánh tứ phẩm). Nếu thu phục lại phủ huyện hoặc tỉnh thành thì được bổ dụng chức vụ đó hoặc phong tước kế tập.

4. Điểm khác biệt trong tính chất đấu tranh của các nghị viên người Việt trong Hội đồng thuộc địa là gì?
Khác với các cuộc khởi nghĩa vũ trang nhằm mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp, hoạt động của các nghị viên người Việt trong Hội đồng thuộc địa diễn ra công khai, hợp pháp, tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi kinh tế, dân sinh, phản đối thuế khóa bất công và đòi quyền dân chủ, giáo dục cho người bản xứ.

5. Nhân tố dân tộc nào thể hiện rõ nét truyền thống đoàn kết kháng chiến tại Nam Kỳ trong giai đoạn 1859–1884?
Sự liên minh chiến đấu giữa người Việt và người Khmer, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa phối hợp giữa Trương Quyền (con trai Trương Định) và nhà sư yêu nước Pu Kom Pô với các căn cứ kháng chiến xây dựng dọc biên giới Tây Ninh – Campuchia.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phản ứng của nhân dân Nam Kỳ đối với thực dân Pháp trong nửa cuối thế kỷ XIX" là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh chân thực các dạng thức đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Nam Bộ. Bằng việc khai thác nguồn tài liệu công báo lưu trữ gốc kết hợp chính sử triều Nguyễn, tác giả đã làm rõ diện mạo phong phú của cả phong trào vũ trang và phi vũ trang, đặc biệt là giai đoạn 1884–1900. Công trình khẳng định tinh thần yêu nước, tính chủ động, linh hoạt của người dân phương Nam trong tiến trình chống ngoại xâm và cung cấp nhiều bài học lịch sử có giá trị khoa học cũng như thực tiễn.