Chương 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SƠ LƯỢC VỀ ĐỘI NGŨ NHO SĨ BÌNH ĐỊNH 1. Bối cảnh lịch sử 1. Bối cảnh trong nước Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế, văn hóa, chính trị.
Tuy nhiên trong giai đoạn này,chế độ phong kiến Việt Nam đang trên con đường khủng hoảng trầm trọng. Trong nông nghiệp, ruộng đất tập trung chủ yếu vào tay cường hào, quan lại, địa chủ, nông dân phần lớn phải lĩnh canh ruộng đất canh tác rồi nộp thuế. Chưa kể đến thiên tai, hạn hán, mất mùa đói kém thường xuyên xảy ra làm cho đời sống người nông dân vô cùng điêu đứng. Công thương nghiệp bị đình đốn, nhà Nguyễn đưa ra chính sách “bế quan tỏa cảng”, “trọng nông ức thương”, độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp, lâm sản quý, đặt ra những luật lệ phức tạp để kiếm chế nội thương.
Giao lưu, mua bán trao đổi hàng hóa giữa các địa phương sa sút nghiêm trọng. Việc buôn bán với nước ngoài cũng do triều đình độc quyền và hạn chế đến mức tối đa, đến thời vua Tự Đức thì hầu như cấm hẳn. Điều đã làm cho Việt Nam bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Để duy trì địa vị và sự thống trị của mình, nhà Nguyễn đã ra sức củng cố bằng mọi cách.
Trong nước thì ra sức đàn áp các cuộc khởi nghĩa, nổi dậy của nhân dân, do đó đã làm lực lượng và sức chiến đấu của quân đội nhà Nguyễn suy giảm trầm trọng, mâu thuẫn giai cấp ngày càng khắc sâu, khối đại đoàn kết của dân tộc bị rạn nứt. Bên cạnh đó, chính sách đối ngoại mắc nhiều sai lầm như là chính sách “cấm đạo”, đuổi giáo sĩ phương Tây, gây hấn với các nước lân cận. Rõ ràng với những chính sách trên, nhà Nguyễn đã hoàn toàn yếu thế trước những thế lực ngoại xâm đến từ phương Tây, tạo điều kiện thuận lợi cho thực dân Pháp xâm lược nước ta. Từ giữa thế kỷ XIX, sau những cuộc chiến tranh tư bản, Pháp thất bại, hệ thống thuộc địa của Pháp ngày càng thu hẹp, sự mất mát này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nước Pháp.
Để lấy lại vị thế của mình, Pháp đẩy mạnh việc xâm chiếm các nước phương Đông, mở rộng thuộc địa. Sau nhiều lần gây hấn, lấy cớ bảo vệ giáo dân, năm 1858, liên quân Pháp- Tây Ban Nha đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng mở màn cho cuộc xâm lược Việt Nam. Vua Tự Đức chủ trương phái tướng lĩnh đến những nơi trọng yếu, bố phòng lực lượng để kháng Pháp. Ông đã sai Đô đốc Lê Đình Lý, Phạm Khắc Thận đem quân tiếp viện ở mặt trận Đà Nẵng và tiến hành cắt chức Trần Hoàng và Nguyễn Tài vì không chủ động phòng thủ khi Pháp đánh vào.Chiến sự ở Đà Nẵng ngày càng căng thẳng, vua Tự Đức đã cử Nguyễn Tri Phương trực tiếp vào chỉ huy ở mặt trận Đà Nẵng.
Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, ông đã cho xây dựng “tường cao, hào sâu”, tổ chức các trận đánh nhỏ lẻ, đánh du kích để tiêu hao sinh lực địch. Qua đó, đã thấy được trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, nội bộ triều đình Huế đã tỏ rõ quyết tâm phối hợp cùng nhân dân đấu tranh. Sau khi không đạt được mục tiêu đặt ra trên chiến trường Đà Nẵng thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Tại mặt trận Gia Định, Pháp vô cùng khốn đốn khi phải chống lại các phong trào kháng Pháp của nhân dân, mặt khác chúng đang vướng vào cuộc chiến tranh ở Châu Âu, mâu thuẫn giữa Anh – Pháp ngày càng gia tăng.
Trước tình hình đó, Chính phủ Pháp đưa ra đề nghị hòa hoãn với nhà Nguyễn ở Việt Nam. Với tầm nhìn thiển cận, phe chủ hòa mà đứng đầu là vua Tự Đức cho rằng mục đích của Pháp tiến đánh Việt Nam chỉ để lấy thị trường buôn bán và truyền đạo chứ không làm tổn hại gì đến chúng ta, “chiến không bằng hòa” vì vậy phải cố thủ rồi mới bàn. Với ý kiến hòa hảo thượng thuyết, triều đình Huế đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để có thể đánh đuổi Pháp ra khỏi đất nước trong lúc Pháp suy yếu. Với quan điểm thủ để giữ thành, tại mặt trận Gia Định, quân triều đình phong kiến liên tiếp thất bại làm cho triều đình hoang mang lo sợ, trong khi đó nội bộ triều đình ngày càng phân hóa mạnh mẽ, phe chủ hòa ngày càng lấn át phe chủ chiến.
Tranh thủ sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, Pháp nắm quyền chủ động trên chiến trườngmở rộng xâm lược ra toàn miền Nam, đánh chiếm 4 tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long. Năm 1862, vua Tự Đức ký Hiệp ước Nhâm Tuất nhường 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm 3 tỉnh còn lại ở Nam Bộ, tạo thành một vùng lãnh thổ gọi là Nam Kỳ lục tỉnh. Sau khi cũng cố chắc vị trí ở Nam kỳ, từ năm 1873 đến năm 1884, Pháp dần xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam.1873, Pháp tiến hành đánh Hà Nội lần thứ nhất, nhưng do không có sự chuẩn bị từ trước nên Hà Nội nhanh chóng thất bại.
Trong khi Pháp đánh phá các tỉnh lân cận, Pháp đã để mặt trận ở Hà Nội bị sơ hở. Nhân cơ hội đó, ngày 21.1873 quân của Hoàng Tá Viêm và quân của Trương Quang Đản ở Bắc Ninh kéo về phối hợp với quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc phục binh ở Cầu Giấy đánh tan lực lượng của quân Pháp. Tướng chỉ huy của Pháp là Gácniê cùng nhiều binh lính chết trận.Trước tình hình đó, quân Pháp ở Bắc Kỳ được lệnh rút vào lại Nam Kỳ. Sau thắng lợi trận Cầu Giấy lần thứ nhất, nhân dân rất phấn khởi, tinh thần đánh giặc dâng cao.
Nhưng triều đình Huế lại không tận dụng được cơ hội cùng nhân dân đánh giặc mà còn lệnh cho các nghĩa quân án binh bất động, đợi triều đình thương thuyết với Pháp. Kết quả ngày 15.1874, Hiệp ước Giáp Tuất được ký kết giữa triều đình Huế và Pháp, thừa nhận quyền cai trị của Pháp ở Nam Kỳ. Hiệp ước 1874 được ký kết đã gây nên sự phẫn nộ của nhân dân, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra với mục đích chống Pháp đi đôi với chống triều đình đầu hàng. Lấy cớ triều đình Huế vi phạm Hiệp ước 1874, thực dân Pháp cho tăng cường quân đội ở Bắc Kỳ.
Sau khi lên kế hoạch đánh chiếm Bắc Kỳ, năm 1882 thực dân Pháp tiến hành đưa quân ra tiến đánh Hà Nội lần 2. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu một mặt tích cực tổ chức, chuẩn bị phòng thủ, mặt khác đưa tin cấp báo về triều đình Huế. Kết quả là triều đình không tán thành cho phòng thủ, phòng thủ lúc này địch sẽ lấy cớ gây sự thêm. Nhân thời cơ triều đình Huế đang đang bị động, thực dân Pháp tiến hành đánh chiếm Hà Nội lần 2, sau đó cho quân đánh chiếm các tỉnh đồng bằng lân cận.
Nhưng ngay những ngày đầu của cuộc đánh chiếm, thực dân Pháp đã vấp phải sự phản kháng quyết liệt của quân dân Bắc Kỳ, tiêu biểu là trận Cầu Giấy lần 2 (19. Với chiến thắng Cầu Giấy lần 2 làm cho quân dân cả nước vô cùng phấn khởi, sẵn sàng xông lên tiêu diệt địch. Lực lượng nghĩa quân khắp nơi quy tụ lại ngày càng đông với tinh thần sẵn sàng đánh Pháp. Nhận thấy thái độ và sự suy yếu của nhà Nguyễn, thực dân Pháp lên kế hoạch đánh chiếm kinh thành Huế.
Trong triều đình Huế lúc này đã chia thành 2 phái rõ rệt: Phái chủ hòa do vua Tự Đức đứng đầu, chủ trương hòa hoãn, đàm phán với Phápvà phái chủ chiến do Thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết chỉ huy chủ trương đánh Pháp. Giữa lúc đất nước đang sục sôi đánh Pháp và Pháp đang chuẩn bị âm mưu tiến đánh Huế thì ngày 19.1883 vua Tự Đức băng hà. Lợi dụng tình hình vua Tự Đức vừa băng hà, triều đình hoang mang, Pháp quyết định đánh Thuận An (18.1883) để uy hiếp kinh thành Huế. Khi nghe tin triều đình Huế hoảng hốt xin đình chiến, Pháp đã thuận lợi cùng triều đình Huế ký kết liên tiếp hai bản Hiệp ước Harmand (25.
Với việc ký kết hai bản Hiệp ước 1883 và 1884, Pháp đã thực hiện chính sách lấn dần, dùng ngoại giao để từng bước hoàn thành xâm lược bằng quân sự. Điều này đã chính thức chấm dứt sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một quốc gia độc lập, tuy vẫn còn tồn tại trên hình thức nhưng triều đình nhà Nguyễn về cơ bản đã trở thành bù nhìn, trở thành lực lượng tay sai của Pháp. Trước tình thế phái chủ hòa đầu hàng Pháp, đứng đầu phái chủ chiến là Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết một mặt loại trừ những thành viên theo phái chủ hòa, một mặt phế bỏ các vị vua bạc nhược theo Pháp là vua Dục Đức và vua Hiệp Hòa, phò vua Hàm Nghi (02.1884) lên ngôi, tiến hành đấu tranh chống Pháp. Bắc Kỳ lúc này rất hỗn loạn do sự bất hòa giữa các thế lực nơi đây.
Triều đình Huế không thể kiểm soát nổi tình hình, nhà Thanh của Trung Quốc đem lực lượng quân lớn tiến vào miền Bắc Việt Nam trên danh nghĩa giúp nhà Nguyễn kháng Pháp, chiến tranh Pháp- Thanh bùng nổ trên chiến trường Bắc Kỳ (9. Nhà Nguyễn tuy có viện trợ từ nhành Thanh cùng quân khởi nghĩa nhưng vẫn thất bại trước Pháp. Sau nhiều lần lãnh đạo quân dân kháng Pháp thất bại, sáng mùng 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi cùng đoàn tùy tùng rời khỏi kinh thành Huế chạy ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị). Tại đây, ngày 13.1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, đã hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất kêu gọi toàn dân phò vua cứu nước.
Ở Quảng Trị một thời gian, để tránh sự truy đuổi gắt gao của Pháp, Tôn Thất Thuyết lại đưa vua Hàm Nghi vượt qua đất Lào đến sơn phòng Ấu Sơn (Hương Khê, Hà Tĩnh), tại đây vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần thứ hai ngày 20. Sau khi hoàn toàn chiếm được Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay vào việc tổ chức bộ máy cai trị, tiến hành các chính sách bóc lột đối với thuộc địa ở Việt Nam. Pháp tuyên bố Bắc Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp (Tonkin) với hệ thống chính quyền độc lập với Trung Kỳ không chịu sự quản lý của triều đình Nguyễn. Cơ quan công quyền ở Bắc Kỳ gồm Thống sứ Bắc kỳ và Viện dân biểu Bắc Kỳ.