Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng hậu phương tại chỗ trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954" do nghiên cứu sinh Đinh Hữu Thuận thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2022), thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 03 15), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Quang Hiển và TS Đặng Kim Oanh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dưới góc độ lý luận quân sự Mác - Lênin, V.I. Lênin từng khẳng định: "Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc. Một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ". Vận dụng quan điểm này vào thực tiễn chiến tranh nhân dân Việt Nam giai đoạn 1945-1975, cùng với việc hình thành các hậu phương chiến lược (Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh, Nam - Ngãi - Bình - Phú), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương xây dựng hệ thống hậu phương tại chỗ trên khắp các địa bàn.

Hậu phương tại chỗ giữ vai trò giảm tải gánh nặng cho hậu phương quốc gia, giải quyết khó khăn trong vận chuyển giao thông trên địa hình dài và hẹp, bảo đảm cung cấp nhân lực, vật lực kịp thời cho tác chiến tại chỗ và chi viện cho các chiến trường chính. Tại Bắc Giang - địa bàn cửa ngõ nối liền Liên khu III với căn cứ địa Việt Bắc, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo xây dựng các mô hình hậu phương tại chỗ đa dạng (vùng tự do, vùng giải phóng, cơ sở chính trị, khu du kích, căn cứ du kích). Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống theo chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong việc xây dựng hậu phương tại chỗ giai đoạn 1945-1954. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng hậu phương tại chỗ phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp; từ đó rút ra các kinh nghiệm lịch sử phục vụ công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Tái hiện những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng hậu phương tại chỗ giai đoạn 1945-1954.
  2. Hệ thống hóa chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy XII, Liên khu I, Liên khu Việt Bắc và chủ trương của Đảng bộ tỉnh; hệ thống hóa sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong xây dựng hậu phương tại chỗ; tái hiện các phong trào, hoạt động của quần chúng nhân dân tham gia xây dựng hậu phương tại chỗ giai đoạn 1945-1954.
  3. Nhận xét ưu điểm, hạn chế, phân tích nguyên nhân và đúc kết các kinh nghiệm lịch sử từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng hậu phương tại chỗ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang thời kỳ kháng chiến, bao gồm các huyện Lục Ngạn, Hữu Lũng, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế. Riêng huyện Sơn Động được khảo sát đến cuối năm 1947 do thời điểm này huyện được sáp nhập vào tỉnh Quảng Hồng. Luận án cũng khảo sát một số hoạt động phối hợp liên quan giữa Bắc Ninh và Bắc Giang.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung từ tháng 10-1945 (thời điểm Đảng bộ lãnh đạo xây dựng các cơ sở ban đầu của hậu phương tại chỗ) đến tháng 8-1954 (thời điểm quân Pháp rút khỏi thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang được giải phóng hoàn toàn). Ngoài ra, luận án mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1945 để làm rõ các tiền đề, nhân tố lịch sử tác động.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các chủ trương và chỉ đạo xây dựng cơ sở ban đầu; xây dựng vùng tự do và vùng giải phóng; xây dựng cơ sở chính trị (cơ sở đảng, cơ sở quần chúng) trong vùng tạm chiếm; xây dựng khu du kích và căn cứ du kích trong vùng quân Pháp kiểm soát; đấu tranh giành đất, giành dân, phá hoại hậu phương quân địch và huy động nhân tài, vật lực cho kháng chiến.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và khảo sát tình hình nghiên cứu liên quan thành hai nhóm công trình chính:

Nhóm công trình Tác giả / Cơ quan biên soạn tiêu biểu Tên công trình / Ấn phẩm Nội dung phản ánh chính
Học giả nước ngoài về chiến tranh Việt Nam Ivan Cadeau (2019)
William Duiker (2000/2014)
Pierre Journoud (2011/2019)
Stein Tønnesson (2009)
Philippe Devillers (1988/1993)
Robert B. Asprey (1975)
Raoul Salan (1971)
C. Lappong (1969)
G. Bàn tròn (1969)
Điện Biên Phủ 13/03-7/05/1954
Hồ Chí Minh, chân dung một cuộc đời
De Gaulle và Việt Nam (1945-1969)
Vietnam 1946: How the war began
Paris – Saigon – Hanoi
War in the Shadow: The Guerrilla in History (Vol. 2)
Một chế độ cáo chung
Hai mươi năm sâu xé nước Pháp
Hai cuộc chiến tranh của Việt Nam
Phân tích cuộc chiến Đông Dương dưới góc nhìn đa chiều; ghi nhận khả năng huy động nguồn lực toàn dân của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; mô tả nghệ thuật chiến tranh du kích và làng kháng chiến.
Học giả trong nước về hậu phương chiến tranh nhân dân Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2006, 2010)
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1997, 2015)
Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996)
Bộ Tư lệnh Quân khu 1 (2015)
Ngô Đăng Tri (1989, 2009, 2010)
Vũ Quang Hiển (2000, 2001)
Nguyễn Văn Nhật (2015)
Đặng Thu Hà (2015)
Trần Thị Thu Hằng (2016)
Trần Thị Thuyết (2008)
Nguyễn Văn Thăng (2011)
Nguyễn Văn Dũng (2005)
Phạm Thị Hương (2015)
Tổng tập luận văn; Điện Biên Phủ
Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975); Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam (Tập 4); Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) (7 tập)
Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học
Lịch sử lực lượng vũ trang Quân khu 1 - Việt Bắc (1945-2015)
Luận án PTS về hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh
Luận án TS về căn cứ du kích đồng bằng Bắc Bộ; bài viết về hậu phương Bình - Trị - Thiên
Bài viết về xây dựng cơ sở đảng tại đồng bằng Bắc Bộ trên Tạp chí Lịch sử Đảng
Các luận văn Thạc sĩ về hậu phương tại chỗ và chiến tranh du kích tại Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình
Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về xây dựng hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ; đúc kết quy luật chuyển biến từ cơ sở chính trị lên khu du kích, căn cứ du kích; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân.
Công trình về địa bàn Bắc Giang Tỉnh ủy Bắc Giang (2002)
BCH Đảng bộ các huyện: Lục Ngạn, Lục Nam, Tân Yên, Yên Thế, Hiệp Hòa, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, TP. Bắc Giang
Bộ CHQS tỉnh Hà Bắc / Bắc Giang
Công an tỉnh Bắc Giang (2006)
Dương Thị Hải (2014)
Các cơ quan, ban ngành tỉnh Bắc Giang
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang, tập 1 (1926-1975)
Các cuốn sách lịch sử Đảng bộ huyện và thành phố
Lịch sử quân sự Hà Bắc (1945-1954); Tổng kết chiến tranh du kích ở Bắc Giang (1945-1954)
Lịch sử Công an nhân dân tỉnh Bắc Giang, tập 1
Luận văn ThS về xây dựng LLVT địa phương ở Bắc Giang
Lịch sử công tác tuyên giáo, kiểm tra Đảng, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Thương mại, Bệnh viện đa khoa tỉnh
Phản ánh quá trình xây dựng chính quyền, phát triển lực lượng vũ trang, tổ chức chiến đấu và bảo vệ quê hương tại các địa phương trong tỉnh; ghi nhận các thành tích cụ thể của quân dân Bắc Giang.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nghiên cứu hiện có chủ yếu tiếp cận hậu phương chiến tranh ở quy mô toàn quốc, hậu phương chiến lược cấp liên khu, hoặc phân tích hoạt động quân sự, chiến tranh du kích và lịch sử địa phương mang tính biên niên tổng quát. Vấn đề lãnh đạo xây dựng "hậu phương tại chỗ" tại Bắc Giang chưa được trình bày thành một công trình độc lập, chuyên sâu và có tính hệ thống dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận án tập trung làm rõ toàn diện các yếu tố tác động, quá trình hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực tiễn xây dựng các loại hình hậu phương tại chỗ, cũng như tổng kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh và hậu phương chiến tranh, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, và các quan điểm của sử học Mác-xít Việt Nam về căn cứ địa, hậu phương kháng chiến và chiến tranh du kích.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chủ đạo: Luận án vận dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
    • Phương pháp lịch sử: Dùng để tái hiện các yếu tố tác động, hoàn cảnh lịch sử, tiến trình hình thành chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh theo trình tự thời gian cụ thể (thể hiện chủ yếu ở Chương 2 và Chương 3).
    • Phương pháp logic: Dùng để phân tích bản chất, nhận xét ưu điểm, chỉ rõ hạn chế, nguyên nhân và khái quát các bài học kinh nghiệm lịch sử (thể hiện chủ yếu ở Chương 4).
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu tư liệu và thống kê lịch sử nhằm xác minh các sự kiện, số liệu.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Khu ủy XII, Liên khu ủy I và Liên khu ủy Việt Bắc.
  2. Các văn kiện lưu trữ, nghị quyết, chỉ thị, thông tri, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy Bắc Giang và các Huyện ủy trong tỉnh giai đoạn 1945-1954.
  3. Các công trình lịch sử Đảng bộ, lịch sử quân sự, kỷ yếu hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, hồi ký, tạp chí chuyên ngành lịch sử, số liệu điều tra thống kê của địa phương và các ấn phẩm của học giả trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 phân tích, tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam và lịch sử kháng chiến tại Bắc Giang giai đoạn 1945-1954. Tác giả chỉ ra những nội dung học thuật đã được giải quyết: làm rõ đường lối chiến tranh nhân dân, vai trò của hậu phương chiến lược và hậu phương tại chỗ; tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh du kích và xây dựng căn cứ du kích ở một số chiến trường. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định ba vấn đề lớn cần tập trung nghiên cứu: các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang; chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn qua hai giai đoạn (1945-1950 và 1951-1954); nhận xét ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong xây dựng hậu phương tại chỗ (1945-1950)

Chương 2 phục dựng bối cảnh và quá trình lãnh đạo xây dựng hậu phương tại chỗ trong 5 năm đầu kháng chiến:

  • Các yếu tố tác động:
    • Vị trí địa lý - tự nhiên: Bắc Giang thời kỳ này có diện tích 39.089 km², tiếp giáp Hải Ninh, Quảng Yên, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Lạng Sơn. Tỉnh nằm ở vị trí cửa ngõ kết nối Liên khu III với Liên khu Việt Bắc qua tuyến giao thông Cẩm Lý - Vũ Xá - Yên Sơn - Sàn - Đại Giáp - Giốc Cọc - Ri - Ruột; sở hữu trục Quốc lộ 1A, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, đường 13B (nay là Quốc lộ 31) và hệ thống sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam hội lưu tại Phả Lại. Địa hình chia thành vùng núi cao rừng rậm (Sơn Động, Lục Ngạn, Hữu Lũng, Yên Thế, Bắc Lạng Giang, Yên Dũng) và vùng trung du đồi xen kẽ đồng bằng (Hiệp Hòa, Việt Yên, Phủ Lạng Thương).
    • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Nông nghiệp quy mô nhỏ lẻ, hệ thống đê điều thường xuyên gặp hạn hán, lũ lụt; tiểu thủ công nghiệp có nhiều làng nghề. Dân tộc gồm người Kinh chiếm đa số và 7 dân tộc thiểu số (Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chỉ, Dao). Về tôn giáo, có khoảng 26.000 giáo dân Công giáo cư trú tại 45 xã (tập trung chủ yếu ở Việt Yên).
    • Truyền thống lịch sử: Địa bàn kế thừa truyền thống phòng tuyến sông Cầu (năm 1077), căn cứ Yên Thế của Hoàng Hoa Thám (1884-1913) và đặc biệt là An toàn khu II (ATK II) được Trung ương Đảng thành lập từ đầu năm 1944 tại Hiệp Hòa (với xóm Đá thuộc làng Vân Xuyên có 33/37 hộ nuôi giấu, bảo vệ cán bộ; 3 chi bộ đảng đầu tiên gồm Hoàng Vân, Tiên Thù, Ca Sơn).
    • Tình hình chiến sự: Tháng 3-1947, quân Pháp đánh chiếm Sơn Động, Lục Ngạn; đến cuối năm 1947 thiết lập bộ máy tề tại hầu hết các xã (trong đó có 15 làng tề phản động). Ngày 13-7-1949, Pháp mở chiến dịch Bastille đánh chiếm mở rộng ra trung du Bắc Giang, lập gần 60 ban tề (nhiều nhất ở Việt Yên), lập vành đai trắng và thực hiện chính sách tam quang.
  • Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh:
    • Giai đoạn từ tháng 10-1945: Chỉ đạo xây dựng các cơ sở ban đầu, chuẩn bị điều kiện phòng thủ, di chuyển kho tàng, cất giấu lương thực.
    • Xây dựng vùng tự do (Hiệp Hòa, Yên Thế) vững mạnh về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa - giáo dục, làm chỗ dựa cho các cơ quan kháng chiến của tỉnh và đón tiếp đồng bào tản cư.
    • Chỉ đạo cán bộ bám đất, bám dân, khôi phục cơ sở chính trị và cơ sở đảng bị vỡ sau các trận càn; tổ chức xây dựng khu du kích, căn cứ du kích trong vùng kiểm soát của Pháp; phát động phong trào làng chiến đấu, chống càn quét, trừ gian diệt tề và ngăn chặn địch thu mua lương thực.

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng hậu phương tại chỗ (1951-1954)

Chương 3 trình bày sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn kháng chiến chuyển sang bước ngoặt mới sau chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950:

  • Yếu tố tác động mới: Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố; thế chủ động chiến lược thuộc về lực lượng kháng chiến; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) đề ra các quyết sách phát triển kinh tế, củng cố hậu phương; khu vực bắc Lục Ngạn được giải phóng cuối năm 1950 tạo địa bàn đứng chân mới.
  • Chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng hậu phương tại chỗ:
    • Đẩy mạnh xây dựng vùng tự do và vùng mới giải phóng: Tăng gia sản xuất nông nghiệp, củng cố hợp tác xã, bảo đảm an ninh lương thực; phát triển y tế, giáo dục bình dân học vụ và chăm lo đời sống nhân dân.
    • Củng cố cơ sở chính trị vùng tạm chiếm và mở rộng căn cứ du kích: Đưa các đội công tác luồn sâu vào vùng sau lưng địch, tổ chức phá tề, trừ gian, bóc gỡ mạng lưới chỉ điểm; củng cố các tổ chức quần chúng kháng chiến và xây dựng chi bộ đảng mật tại các thôn, xã thuộc vùng địch kiểm soát dọc Quốc lộ 1A và đường 13B.
    • Đấu tranh giành đất, giành dân, phá hoại hậu phương quân Pháp: Vận động nhân dân bảo vệ mùa màng, thực hiện "vườn không nhà trống", chống địch cưỡng bức bắt lính, phá hoại hệ thống giao thông tiếp tế của quân đội Pháp.
    • Huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến trường: Tổ chức các đoàn dân công vận tải, huy động lương thực, thực phẩm, thuốc men, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt phục vụ các chiến dịch lớn, đặc biệt là huy động sức người, sức của đóng góp cho cuộc Tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đến ngày toàn thắng (tháng 5-1954), tiến tới tiếp quản thị xã Phủ Lạng Thương khi quân Pháp rút lui (tháng 8-1954).

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử

Chương 4 tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua 9 năm kháng chiến và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:

                                  5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM LỊCH SỬ
                                       (Đúc kết tại Chương 4)
  • Nhận xét chung: Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã linh hoạt điều chỉnh phương thức chỉ đạo phù hợp với diễn biến chiến trường; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ hậu phương; kết hợp tác chiến du kích với đấu tranh chính trị, kinh tế. Hạn chế lịch sử là có thời điểm xuất hiện tư tưởng nôn nóng, ham đánh lớn, chú trọng bộ đội chủ lực mà chưa chú trọng đúng mức lực lượng dân quân du kích tại chỗ; việc nắm bắt phương châm hoạt động ở vùng sau lưng địch có lúc chưa kịp thời dẫn đến một số cơ sở chính trị bị tổn thất khi địch càn quét gắt gao.
  • Nội dung 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:
    1. Vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ trương xây dựng căn cứ địa, hậu phương tại chỗ của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương: Kết hợp thế địa hình rừng núi và trung du, phát triển các loại hình căn cứ linh hoạt.
    2. Chăm lo xây dựng Đảng về mọi mặt, chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh: Coi hạt nhân chi bộ đảng tại cơ sở là yếu tố quyết định để giữ đất, giữ dân, xây dựng phong trào kháng chiến.
    3. Thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong xây dựng hậu phương tại chỗ: Vận động khối liên minh lương - giáo, đoàn kết các dân tộc thiểu số (Nùng, Tày, Sán Dìu, Dao...), bẻ gãy âm mưu "chia để trị" của đối phương.
    4. Xây dựng các loại hình hậu phương tại chỗ phù hợp với tương quan lực lượng và tích cực, chủ động đấu tranh chuyển vùng: Chuyển hóa linh hoạt giữa vùng tạm chiếm, khu du kích, căn cứ du kích sang vùng giải phóng khi thời cơ xuất hiện.
    5. Huy động sức dân đi đôi với bồi dưỡng sức dân, tạo kế sâu rễ bền gốc: Chăm lo đời sống kinh tế, giảm tô, cứu đói, phát triển giáo dục song song với việc vận động nhân lực, vật lực cho tiền tuyến.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về nguồn tư liệu

  • Luận án đã khai thác, tập hợp và hệ thống hóa nguồn tư liệu lưu trữ phong phú từ các nghị quyết, chỉ thị, thông tri, báo cáo của Trung ương Đảng, Khu ủy XII, Liên khu ủy I, Liên khu ủy Việt Bắc và Tỉnh ủy Bắc Giang giai đoạn 1945-1954.
  • Cung cấp nguồn tài liệu khoa học đáng tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đóng góp về nội dung khoa học

  • Phục dựng một cách hoàn chỉnh, toàn diện và có hệ thống tiến trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng các loại hình hậu phương tại chỗ từ cơ sở ban đầu (1945), trải qua giai đoạn giữ gìn và phát triển lực lượng (1945-1950), đến giai đoạn đẩy mạnh toàn diện (1951-1954).
  • Làm rõ tính quy luật và nghệ thuật chỉ đạo xây dựng hậu phương trong lòng địch: đi từ cơ sở chính trị bí mật tiến lên xây dựng khu du kích, căn cứ du kích và giải phóng địa bàn.
  • Chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo khi được vận dụng vào điều kiện cụ thể của một tỉnh trung du - miền núi tiếp giáp đồng bằng Bắc Bộ.
  • Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và giá trị thực tiễn đối với công tác xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và khu vực phòng thủ tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.

Kiến nghị và đề xuất

Từ kết quả nghiên cứu lịch sử, tác giả đề xuất việc tiếp tục vận dụng bài học "lấy dân làm gốc", củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh địa phương; đồng thời chú trọng xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh ở các địa bàn xung yếu.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Về phạm vi không gian, tư liệu về huyện Sơn Động chỉ được khảo sát sâu đến cuối năm 1947 do sự thay đổi về mặt phân giới hành chính (sáp nhập vào tỉnh Quảng Hồng).
    • Nguồn tư liệu lưu trữ cấp xã, thôn trong những năm đầu chiến tranh chịu ảnh hưởng của các cuộc càn quét, hủy hoại tài liệu nên một số hoạt động phong trào cụ thể ở cơ sở chưa được phản ánh đồng đều giữa các huyện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình hậu phương tại chỗ ở Bắc Giang với các tỉnh khác trong Liên khu Việt Bắc và Liên khu III.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào Công giáo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong chiến tranh giải phóng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quân sự có thể khai thác khung phân tích, phương pháp tiếp cận và danh mục tài liệu lưu trữ về căn cứ địa, hậu phương chiến tranh.
  2. Giảng viên các trường chính trị, học viện, trường đại học có thêm nguồn tư liệu thực chứng cụ thể để biên soạn giáo trình, bài giảng về nghệ thuật chiến tranh nhân dân và lịch sử địa phương.
  3. Cán bộ lãnh đạo, cơ quan quân sự, công an và ban ngành đoàn thể tỉnh Bắc Giang tham khảo các bài học kinh nghiệm về xây dựng thế trận lòng dân, củng cố cơ sở chính trị và tổ chức khu vực phòng thủ cấp tỉnh, huyện hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Hậu phương tại chỗ trên địa bàn Bắc Giang giai đoạn 1945-1954 bao gồm những loại hình cụ thể nào?
Trả lời: Hậu phương tại chỗ ở Bắc Giang được tổ chức linh hoạt gồm: vùng tự do (như Hiệp Hòa, Yên Thế), vùng mới giải phóng (như bắc Lục Ngạn sau năm 1950), cơ sở chính trị (tổ chức đảng và đoàn thể quần chúng bí mật) trong vùng tạm chiếm, cùng các khu du kích và căn cứ du kích (tiêu biểu như ở Yên Dũng, Lục Ngạn) nằm xen kẽ trong vùng quân Pháp kiểm soát.

2. Vị trí địa lý và hệ thống giao thông tỉnh Bắc Giang có đặc điểm gì tác động đến việc xây dựng hậu phương?
Trả lời: Bắc Giang có diện tích 39.089 km², nằm ở cửa ngõ nối Liên khu III với Liên khu Việt Bắc qua tuyến giao thông Cẩm Lý - Vũ Xá - Yên Sơn - Sàn... Tỉnh có trục Quốc lộ 1A, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, đường 13B và các tuyến sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam. Địa hình đồi núi hiểm trở thuận lợi cho lập căn cứ du kích, nhưng các trục đường huyết mạch cũng là nơi quân Pháp tập trung chiếm đóng, lập đồn bốt và mở các cuộc hành quân càn quét.

3. Tiền đề lịch sử cách mạng trước năm 1945 nào có ý nghĩa đặc biệt đối với hậu phương Bắc Giang trong kháng chiến chống Pháp?
Trả lời: Đó là việc hình thành An toàn khu II (ATK II) từ đầu năm 1944 tại địa bàn Hiệp Hòa, Phổ Yên, Phú Bình. Tại Hiệp Hòa, các cơ sở quần chúng rất vững chắc (như xóm Đá, làng Vân Xuyên có 33/37 hộ nuôi giấu cán bộ) cùng 3 chi bộ đảng sớm thành lập (Hoàng Vân, Tiên Thù, Ca Sơn), tạo tiền đề chính trị - xã hội cho việc xây dựng vùng tự do vững chắc sau này.

4. Đặc điểm tôn giáo và dân tộc thiểu số tại Bắc Giang đặt ra thách thức gì cho công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh?
Trả lời: Toàn tỉnh có 7 dân tộc thiểu số (Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chỉ, Dao) và khoảng 26.000 giáo dân Công giáo tập trung tại Việt Yên. Thực dân Pháp đã lợi dụng điều này để lập xứ Nùng tự trị, lập các làng tề Công giáo vũ trang và khoét sâu mâu thuẫn lương - giáo. Đảng bộ tỉnh phải tập trung chỉ đạo công tác dân vận, chống chia rẽ tôn giáo và phá vỡ âm mưu lập tề của địch.

5. Luận án đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm lịch sử cơ bản nào?
Trả lời: Luận án đúc kết 5 bài học: (1) Vận dụng sáng tạo chủ trương xây dựng căn cứ địa, hậu phương tại chỗ vào thực tế địa phương; (2) Xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh toàn diện; (3) Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và phát huy sức mạnh tổng hợp; (4) Xây dựng các loại hình hậu phương phù hợp tương quan lực lượng, chủ động chuyển vùng; (5) Thực hiện huy động sức dân đi đôi với bồi dưỡng sức dân.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đinh Hữu Thuận là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh một cách toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng hậu phương tại chỗ trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Dựa trên phương pháp lịch sử và logic cùng nguồn tư liệu văn kiện phong phú, luận án đã làm rõ các yếu tố tác động, quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương qua từng giai đoạn chiến tranh. Các kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng tại một địa bàn trung du - miền núi giàu truyền thống cách mạng mà còn đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị vận dụng cho nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân hiện nay.