chương 1 có tên “Hiểu lầm khởi thủy”, tác giả viết về giai đoạn 1945 đến 1957 với nội dung có tính khái quát về những quan điểm, đường lối của de Gaulle - luôn muốn chia nước Việt Nam làm 3 kỳ nằm trong Liên bang Đông Dương. Với quan điểm, đường lối ấy, de Gaulle đã bỏ qua lời của tướng Leclerc và ủy viên Cộng hòa Jean Sainteny những người muốn đàm phán với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngược lại với de Gaulle Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn có một nước Việt Nam thống nhất và hệ quả của sai lầm ấy đã dẫn đến sự thất bại của thực dân Pháp bằng trận Điện Biên Phủ năm 1954. Stein Tonnesson nhà sử học Na Uy tác giả cuốn sách “Vietnam 1946: How the war began”, tạm dịch: “Việt Nam 1946: Chiến tranh đã bắt đầu như thế nào” [181], ra mắt tại Hà Nội, năm 2009.
Ở cuốn sách này, tác giả đã tập trung lý giải nguyên nhân và trách nhiệm dẫn đến sự bùng nổ của cuộc chiến tranh Pháp - Việt vào ngày 19-12-1946. Một trong những nguyên nhân và trách nhiệm theo tác giả là do những viên chức Pháp ở Đông Dương làm trái với chỉ thị của chính phủ Pháp khi họ khiêu khích chính phủ Việt Minh. Mặc dù tác giả đã thể hiện một số quan điểm đối lập với quan điểm của sử học Việt Nam về nguyên nhân và trách nhiệm gây ra chiến tranh, nhưng qua tác phẩm độc giả cũng thấy được cái nhìn từ một nhà sử học nước ngoài về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, về vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Philippe Devillers là nhà báo, nhà sử học người Pháp có nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam, năm 1988 ông cho ra đời tác phẩm “Paris – Saigon – Hanoi”, NXB.Gallimard, Paris, xuất bản bằng tiếng Việt lần đầu năm 1993 [157].Devillers đến Sài Gòn với tướng Leclerc và nhóm cộng sự với cách nhìn vấn đề bang giao lúc đó thì “hòa bình là giả thiết duy nhất có giá trị”.
Khi chiến tranh xảy ra, Ph.Devillers đã luôn tìm cách làm sáng tỏ những nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh Pháp – Việt. Trong 40 năm sưu tầm tư liệu, ông đã có điều kiện để làm sáng tỏ nguyên nhân của cuộc chiến tranh này. Bằng thái độ tôn trọng sự thật lịch sử và một tinh thần thẳng thắn bảo vệ công lý, ông đã dựng lên một tác phẩm với lối 13 trình bày sự kiện, vấn đề một cách logic, rõ ràng về mối bang giao Việt – Pháp. Theo quan điểm của tác giả, nguyên nhân để xảy ra chiến tranh không phải do ngẫu nhiên, mà do tội lỗi, do sự “vụng về” hoặc “tính toán sai lầm” của một vài người, một cánh nhỏ những quan chức và nhà quân sự cao cấp Pháp đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa nước Việt Nam và nước Pháp.
Theo Devillers, cuộc xung đột nẩy sinh từ trong tình huống lập lờ hai mặt và đã hoàn toàn có khả năng tránh được. Từ đó tác giả muốn làm rõ trách nhiệm gây ra sự đổ máu, lấy đi tính mạng của nhiều người kéo dài suốt 7 năm trong chiến tranh Đông Dương của Pháp, rồi đến cuộc chiến tranh của Mỹ gây ra ở Việt Nam kéo dài 13 năm, cuộc chiến tranh này có một phần nguyên nhân bởi Washington và phương Tây đã chấp nhận quan điểm sai lầm của Pháp. Thông qua các tài liệu được trình bày, tác giả cũng đã cho thấy thiện chí, sự khôn khéo, mềm dẻo và nguyên tắc trong ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm cứu vãn một nền hòa bình và quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của Việt Nam.Asprey, “War in the Shadow: The Guerrilla in History”, Vol.2, Doubleday & Company, New York, 1975, bản tiếng Anh, tạm dịch là “Chiến tranh trong bóng tối: Du kích trong lịch sử”, tập 2, Doubleday & Company, New York, 1975 [180]. Đây là tác phẩm viết về chiến tranh ở Việt Nam, trong đó có nội dung tái hiện sinh động về hoạt động chiến tranh du kích của Việt Minh dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Chương 54 tác giả đã đề cập tới các làng kháng chiến ở Việt Nam, cách xây dựng các làng kháng chiến và cách chiến đấu của DQDK Việt Nam để đối phó với các kế hoạch, chiến lược của quân Pháp. Chương 55, 56 tiếp tục mô tả thêm về sự phát triển của chiến tranh du kích lên chính quy, những thất bại của Pháp ngày càng nặng nề ở Việt Nam, sự can thiệp của Mỹ. Ngoài ra còn có một số tác phẩm xuất bản ở Pháp như: “Một chế độ cáo chung” của R. Xalăng (Raoul Salan), NXB.Pari, 1971 [159]; “Hai mươi năm sâu xé nước Pháp” của C.Lappong, Pari, 1969 [93]; “Hai cuộc chiến tranh của Việt Nam” của G.Bàn tròn, Pari, 1969 [127].
14 Nhóm công trình nghiên cứu của học giả trong nước: Ở trong nước có khá nhiều học giả nghiên cứu về chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, xây dựng CCĐ, hậu phương (hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ). Trong số nhiều tác giả nghiên cứu về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng huyền thoại của Quân đội nhân dân Việt Nam, tiêu biểu có công trình khá đồ sộ là “Tổng tập luận văn”, NXB. Quân đội nhân dân, 2006 [124]. Trong “Tổng tập luận văn”, từ những tác phẩm luận văn, công trình, bài viết, bài nói của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp về hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ độc giả có thể thấy rõ những chủ trương và tổ chức, chỉ đạo kháng chiến của Đảng và Quân đội, những huấn lệnh, chỉ thị về xây dựng LLVT, về tư tưởng cách mạng tiến công, nghệ thuật chủ động tiến công; nghệ thuật tạo thời cơ và nắm vững thời cơ; thực hành chiến dịch quyết chiến chiến lược; tổng kết kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ và cuộc tiến công chiến lược Ðông Xuân 1953-1954.
Từ công trình, một trong những vấn đề có tính quy luật của chiến tranh nhân dân Việt Nam đã được đúc rút. Đó là, đi từ xây dựng CSCT tiến lên xây dựng KDK, CCDK, xây dựng CCĐ, hậu phương kháng chiến. Từ gây dựng lòng dân, tạo chỗ đứng chân ngày một vững chắc trong vùng tạm chiếm, xây dựng những CSCT, từ đó Đảng phát động chiến tranh du kích, tiến lên xây dựng những KDK và CCDK. Đại tướng cho rằng với sự xuất hiện của CCDK, CCĐ cách mạng mới thực sự hình thành, vì đây mới là vùng mà cách mạng hoàn toàn làm chủ.
Trong chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, CCĐ cách mạng lúc đầu mới là những CCDK nằm xen kẽ giữa các vùng quân đội đối phương chiếm đóng, thường xuyên bị uy hiếp, những CCĐ đó chỉ có thể làm nhiệm vụ hậu phương của chiến tranh du kích. Do đó, Đại tướng cho rằng để tiến lên giành thắng lợi triệt để cho cách mạng, chiến tranh du kích nhất thiết phải tiến lên chiến tranh chính quy, cho nên CCDK cũng nhất thiết phải tiến lên thành hậu phương ngày càng ổn định. Tuy nhiên, theo Đại tướng quy luật đó không có nghĩa là phủ nhận khả năng phát triển nhảy vọt hay thụt lùi tạm thời trong sự hình thành và phát triển của CSCT, CCĐ, hậu phương. Trong chiến đấu bảo vệ 15 CCĐ, hậu phương một trong những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng phải triển khai là phát huy mạnh mẽ tinh thần tích cực tiến công, kết hợp chặt chẽ việc tích cực chiến đấu bảo vệ hậu phương ta với tích cực tiến công đánh phá và thu hẹp hậu phương địch.
Từ những bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Điện Biên Phủ, NXB.CTQG đã sưu tầm, hệ thống và xuất bản thành cuốn “Điện Biên Phủ” vào năm 2010 [118; tr. “Điện Biên Phủ” là cuốn sách có bố cục nội dung đảm bảo tính logic, hợp lý và phản ánh tiến trình lịch sử với những vấn đề xoay quanh chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong đó, phần “Bài học thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ”, Đại tướng đã đưa ra một số nhận định về hậu phương chiến tranh nhân dân như về “tinh thần phục vụ tiền tuyến của nhân dân” là “hăng hái và phấn khởi lạ thường, với một sự cố gắng vượt bậc” và “Chưa bao giờ, trong suốt mấy năm kháng chiến, dân tộc ta đã góp công sức nhiều như trong Đông Xuân 1953-1954, để chi viện cho quân đội giết giặc”. Về tầm quan trọng của vấn đề cung cấp nhân vật lực của hậu phương cho tiền tuyến: “Vấn đề bảo đảm cung cấp lương thực, đạn dược là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật; khó khăn về cung cấp quả thực không kém khó khăn về tác chiến”.
Do đó, sự thất bại của đối phương là bởi “Bọn đế quốc, bọn phản động không bao giờ đánh giá được sức mạnh của một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó là vô tận. Sức mạnh đó có thể khắc phục tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ địch”. Đại tướng cũng khẳng định vai trò to lớn của các mặt trận khác trên toàn quốc góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Điên Biên Phủ như “nhưng trên các mặt trận phối hợp… nhân dân đã làm tròn nhiệm vụ chi viện cho quân đội giết giặc”, “cả một hậu phương đang tuôn người, tuôn của ra mặt trận”.
Từ đó, Đại tướng khẳng định một luận điểm quan trọng: “Quả thật, hậu phương vững chắc là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trong chiến tranh cách mạng”. Có thể nói, cuốn “Điện Biên Phủ” là tác phẩm có giá trị lý luận sâu sắc, phản ánh và đúc kết thực tiễn cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh anh dũng và vẻ vang của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. 16 Cuốn “Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)” của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, NXB.Quân đội nhân dân, 1997 [81]. Công trình đã nghiên cứu, tổng kết về vai trò to lớn của các vùng hậu phương trên cả nước trong 30 chiến tranh cách mạng (1945-1975).
Hậu phương là nơi cung cấp nguồn nhân lực, vật lực và động viên tinh thần bộ đội, chiến sĩ, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho tiền tuyến đánh giặc. Hậu phương là chỗ đứng chân của BĐCL, BĐĐP, DQDK, nơi để bộ đội rèn luyện, bồi dưỡng sức chiến đấu, chăm sóc thương binh và là nơi tiến có thể đánh, lui có thể phòng ngự, bảo toàn lực lượng.