BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TÊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÊ CÔNG CỘNG ĐẶNG THỊ MINH HẰNG KIÊN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỂ sử DỤNG KHÁNG SINH CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI MỘT SỐ XÃ NÔNG THÔN - HUYỆN GIA LÂM - HÀ NỘI LUẬN VÃN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ Hướng dẫn khoa học: TSJ|guyen Hoàng Long Hà Nội - 2002 Lời cảm ơn Tôi xin chân thành cảm ơn tới Tiến sỹ Nguyễn Hoàng Long đã nhiệt tình diu dắt, giúp đỡ tôi trong suốt quá trĩnh làm luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn tới Tiến sỹ Phạm Trí Dũng, Thạc sỹ Nguyễn Thanh Hương đã đóng góp những ý kiến quý báu để cho luận văn được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn tới: Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Phòng nghiên cứu khoa học, phòng điều phối, cùng toàn thể các thầy giáo cô giáo và cán bộ công nhân viên trường đại học Y tế công cộng. Ban giám đốc cùng toàn thể các anh, chị cán bộ Trung tâm y tế huyện Gia Lâm - Hà Nội, cán bộ y tế các xã Lệ Chi, Văn Đức, Đặng Xá, Trung Màu, Dương Quang của huyện.
Chi uỷ, Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp Cục Quản lý Dược Việt Nam. Tập thể lớp Cao học 4 trường đại học Y tế công cộng. Người thân, bạn bè, gia đình Đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành được luận văn này. Đặng Minh Hằng DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ADPC: Area of Drug Policy Control ( Lĩnh vực quản lý chính sách thuốc) ADR: Adverse Drug Reactions (những phản ứng có hại của thuốc) BV: Bệnh viện CĐ: cao đẳng CNVC: Công nhân viên chức ĐH: Đại học KS: Kháng sinh KT: Kiến thức PKĐK: Phòng khám đa khoa khu vực SDKS: sử dụng kháng sinh TCYTTG: Tổ chức y tế thế giới TH: thực hành TYT: trạm y tế WHO: World Health MỤC LỤC Trang ĐẶT VÂN ĐỂ.
3 PHẨN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Vấn đề sử dụng thuốc an toàn hợplý. Sử dụng thuốc ở tại một số nước. Một số hậu quả của việc sử dụng thuốc không đúng.
Sử dụng thuốc ở Việt Nam. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng kháng sinh. Tinh hình kháng kháng sinh của vi khuẩn. Vài nét về địa bàn nghiên cứu.
15 PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 17 CỨU.Phần định lượng. Phần định tính. Một số khái niệm và định nghĩa cơ bản. Các biến nghiên cứu.
Phương pháp khống chế sai số. Những đóng góp của đề tài. Hạn chế nghiên cứu. Vấn đề đạo đức nghiên cứu.
26 PHẨN III: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu. Thông tin chung về đối tượng điều tra. Thông tin về bệnh tật của trẻ em dưới 5 tuổi. DANH MỤC CÁC BlỂư Đổ Biểu 1: Kiến thức của các bà mẹ về kháng sinh dùng để điều 31 trị những bệnh gì (%) Biểu 2: Kiến thức của bà mẹ về thời gian dùng KS.
Tỷ lệ đạt và điểm kiến thức trung bình về sử dụng 38 kháng sinh theo trình độ văn hoá của các bà mẹ Biểu 4: Tỷ lệ cộng dồn theo thời gian dùng kháng 43 sinhị. Tỷ lệ đạt và điểm thực hành trung bình về sử dụng 47 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảngl. Phân bố đối tượng điều tra theo nhóm tuổi, giới, trình độ văn hoá, nghề nghiệp (n= 515). Tinh trạng kinh tế của các hộ gia đình được điều tra.
tỷ lệ trẻ <5 tuổi bị ốm trong 4 tuần trước ngày điều tra theo giới và thu nhập 29 Bảng 4. Phân bố các dấu hiệu hoặc bệnh trong 4 tuần trước cuộc điều tra. Nơi KCB của 247 trẻ. Tmh hình sử dụng thuốc của 260 trẻ ốm trong 4 tuần trước cuộc điều tra.
Kiến thức bà mẹ về khi nào cần dùng kháng sinh. Kiến thức bà mẹ về nơi nên mua thuốc KS. Kiến thức của bà mẹ khi dùng kháng sinh uống nên uống với loại nước gì. Kiến thức của bà mẹ về tác hại của việc sử dụng kháng sinh không đúng.
Kiến thức của bà mẹ về các biểu hiện xảy ra khi có tác dụng phụ của kháng sinh 34 Bảng 12. Kiến thức của bà mẹ về cách xử trí khi có tác dụng phụ của kháng sinh. Kiến thức bà mẹ biết các đối tượng cần thận trọng khi dùng kháng sinh. Kiến thức bà mẹ về cách xử trí nếu dùng kháng sinh 2 - 3 ngày mà bệnh không đỡ 36 Bảng 15.
Đánh giá tổng hợp kiến thức của 515 người được phỏng vấn về sử dụng kháng sinh cho trẻ em dưới 5 tuổi. Người quyết định cho trẻ dùng kháng sinh. Tỷ lệ các thuốc kháng sinh được dùng cho trẻ em trong chữa bệnh. Số thuốc kháng sinh được bà mẹ sử dụng cho trẻ em 40 trong đợt ốm vừa qua Bảng 19.
Đường dùng kháng sinh. Nơi mua kháng sinh của các bà mẹ. Những vấn đề bà mẹ quan tâm khi mua thuốc cho con. Số ngày sử dụng kháng sinh của các bà mẹ cho trẻ em trong đợt ốm vừa qua 43 Bảng 23.
Những căn cứ để bà mẹ biết liều dùng kháng sinh cho trẻ. Tỷ lệ bà mẹ cho con uống kháng sinh với các loại nước uống. Đánh giá tổng hợp thực hành của 198 người được phỏng vấn về sử dụng kháng sinh cho trre em dưới 5 tuổi. 46 Bảng 26: Tỷ lệ thầy thuốc có kê đơn hoặc hướng dẫn liều dùng và cách dùng kháng sinh 49 Bảng 27: Thời gian dùng kháng sinh do thầy thuốc ghi trong đơn hoặc hướng dẫn.
49 1 ĐẶT VÂN ĐỂ Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt có vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là hết sức cần thiết và là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thuốc quốc gia. Khi nền kinh tê' đất nước chuyển hướng theo cơ chế thị trường, ngành Dược cũng có nhũng thay đổi đáng kể. Cùng với hệ thống doanh nghiệp Dược nhà nước, mạng lưới Dược tư nhân ra đời và ngày càng phát triển đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân.
Th ị tr ường thuốc ngày càng phong phú, đa dạng với sự có mặt của các thu ốc nh ập kh ẩu và các thu ốc s ản xu ất trong nước, bước đầu khắc phục tình trạng thiếu thuốc nghiêm trọng trong những nãm trước đây. Đảy là một thay đổi đáng mừng, song nó cũng trở thành mối quan tâm lớn của ngành y tế. Khi trình độ cán bộ y tế, điều kiện kinh tế. dân trí chung chưa cao, các bi ện pháp qu ản lý còn h ạn ch ế, thì s ự phong phú về thị trường thuốc sẽ rất dễ dẫn tới việc sử dụng thu ốc không đúng.
M ặt tiêu c ực c ủa nền kinh tê' thị trường sẽ tác động tới thái độ của thầy thuốc, người bán thuốc cũng dẫn tới việc sử dụng thuốc không hợp lý. Các loại thuốc kháng sinh được mua bán tự do thiếu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, người dân có thể mua bất cứ một loại kháng sinh nào, sô' l ượng bao nhiêu tuỳ ý muốn, trong khi đó sự hiểu biết về kháng sinh còn rất hạn chê' nên việc sử dụng kháng sinh tuỳ tiện, dùng không đúng liều lượng hoặc không tuân theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc v ề li ều l ượng cách dùng, ngày dùng V. gây ra nhiều tác hại trước mắt và lâu dài. Đ ặc bi ệt đ ối v ới tr ẻ em, c ơ th ể non yếu và chưa hoàn chỉnh, nên việc sử dụng kháng sinh không đúng đã gây ra nh ững h ậu qu ả đáng tiếc.
Nghiên cứu về sử dụng KS trước khi nhập viện của trẻ em d ưới 5 tu ổi t ại b ệnh vi ện B ạch Mai của Hoàng Kim Huyền và cộng sự năm 1999 cho th ấy có 66 % b ệnh nhân đ ược ng ười nhà t ự mua thuốc kháng sinh và dùng không có chỉ dẫn của bác sỹ. Điều này gây nhiều khó khăn trong công việc điều trị tại bệnh viện [19], Một nghiên cứu khác về sử dụng kháng sinh tại nhà của người dân nông thôn cho thấy trong sô' những người (thường quyết định việc chữa bệnh cho gia đình) đ ược h ỏi chí có 24% bi ết r ằng dùng kháng sinh phải đúng liều và thời gian, 33% th ường dùng kháng sinh d ưới 3 ngày, 18% ch ưa bao giờ dùng KS có đơn, 47% dùng KS thông qua hỏi người bán thuốc và bạn bè [17], Điều này cũng góp phần gây nên tình trạng 2 kháng kháng sinh đang tăng lên nhanh chóng. Theo một báo cáo về mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn phân lập tại bệnh viện Nhi đồng thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 cho biết vi khuẩn E.coli kháng lại các kháng sinh thông thường (tỷ lệ vi khuẩn E. coli kháng lại Ampicilin là 87%, Cotrimoxazol 77,1%) với Enterobacter đã kháng rất cao với các kháng sinh được thử (Kháng cloramphenicol 79,3%, Cotrimoxazol 82%), với Shigella spp kháng Co-trimoxazol 100%, với Haemophilus influenzae là một trong những vi khuẩn chính gây viêm đường hô hấp dưới đã kháng cao với kháng sinh thông dụng (kháng Cloramphenicol 79,3%, Cotrimoxazol 82%) [ 27 ].
Sự kháng thuốc không những gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con ng ười mà còn ảnh hưởng tới nền kinh tế mỗi nước do phải tăng thời gian điều trị, tăng chi phí cho y tế do phải tăng liều dùng, sử dụng kháng sinh thê' hệ mới và phải chấp nhận các r ủi ro nhi ều h ơn do ph ản ứng có h ại của kháng sinh mà bệnh nhân phải gánh chịu [26]. Tình trạng trên đây đã khiến các nhà nghiên cứu, nhà quản lý cần phải tìm hiểu vâh đề tự sử dụng kháng sinh trong cộng đổng để có thể làm cơ sở cho việc giáo dục, đào tạo, lập những chính sách hữu hiệu để tiến tới sử dụng kháng sinh an toàn hợp lý. Năm 2001 tổng số trẻ em dưới 5 tuổi vào điều trị tại khoa nhi Trung tâm y tế huyện Gia Lâm là 1.215 trẻ bị mắc bệnh hô hấp. 224 trẻ bị tiêu chảy, rối loạn tiêu hoá là 277 cháu, bệnh thận 22 cháu.
Trong tổng số trẻ em nhập viện, tr ẻ em nông thôn chi ếm 67,7%. Theo thống kê của TTYT Gia Lâm, khoảng 70% số trẻ em dưới 5 tuổi vào điều trị đã tự sử dụng kháng sinh tại nhà trước khi nhập viện. Đồng thời, qua nắm tình hình thực tế tại 1 trạm y tế xã, trung bình mỗi ngày chỉ có khoảng 4 - 5 lượt người đến khám chữa bệnh, còn chủ yếu là đến mua thuốc, đặc biệt là mua thuốc kháng sinh cho trẻ em.