Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tính nghiêm trọng của đại dịch AIDS: 1. Một số khái niệm cơ bản: 1. AIDS: Là cụm chữ viết tắt các chữ cái đầu từ của cụm từ tiếng Anh Acquired Immuno Deficiency Syndrome, dịch ra tiếng Việt là: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, dùng để chỉ giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV, thường biểu hiện bằng các b ệnh nhiễm tiling cơ hội và ung thư do hệ thống miến dịch của cơ thể bị suy giảm [33]. HIV: Là cụm chữ viết tắt các chữ cái đầu từ của cụm từ tiếng Anh Human Immunodeficiency Virut.
Đó là loại vi rút khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ tấn công tiực tiếp hệ thống miễn dịch, làm cơ thê giảm sức đề kháng và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội và ung thư [33]. Trong cơ thể người HIV có nhiều nhất trong máu, tiếp đến là tinh dịch, dịch âm đạo, niêm mạc âm đạo và cổ tử cung, sữa mẹ, ngoài ra HIV còn phân lập được ở một số loại dịch khác của cơ thể như nước bọt, nước mắt, nước tiểu, nước não tuỷ. của người nhiễm HIV. HIV là loại vi rút yếu không tồn tại lâu ở ngoài cơ thể và có thể diệt HIV bằng: Đun, luộc sôi, đốt nóng trong 20 phút.
Hấp ướt ở 121°c trong 20 phút. Ngâm trong c ổn 70° trong 30 phút. Di ệt bằng các hoá chất thông thường [27] Những đặc điểm dịch tễ học, y sinh trên đây chính là cơ sở để xác định đường lây truyền, các biện pháp phòng tránh nhiễm HIV. HIV/AIDS là cách viết thông dụng, thể hiện cả tác nhân gây ra và hậu quả c ủa quá trình nhiễm HIV.
HIV có thể lây truyền từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục, qua đường máu, mẹ truyền cho con qua nhau thai và sữa mẹ. Những hành vi tiếp xúc thông thường không lây truyền HIV như: Ti ếp xúc ở n ơi làm vi ệc hoặc ở trường học; côn trùng đốt; dùng chung ca, cốc, bát 3 đũa, quần áo.; bắt tay, ôm hôn. bơi chung cùng bể bơi.; dùng chung nhà vệ sinh và ở cùng nhà. Đê phòng lây nhiếm HIV phải tránh: Không quan hệ tình dục hoặc th ực hi ện tình d ục an toàn bằng cách tránh tiếp xúc trực tiếp với những dịch tiết của cơ thể như tinh dịch, dịch tiết âm đạo của bạn tình hoặc chính mình bằng các phương pháp ngăn cách như dùng bao cao su đúng cách để đề phòng vi rút xâm nhập vào cơ thể.
Không dùng chung bơm kim tiêm hoặc các dụng cụ đâm xuyên qua da. Không dùng lại bơm kim tiêm, dụng cụ y t ế đã nhi ễm b ẩn mà ch ưa đ ược ti ệt khuẩn cẩn thận. Xét nghiệm sàng lọc HIV ở máu và các sản phẩm máu của ng ười cho máu. Các dụng cụ, phương tiện thực hiên các dịch vụ xã hội: xăm lông mày, b ấm lỗ tai, c ạo râu, c ạo m ặt.
phải được tiệt khuẩn theo quy trình y tế. Phòng, chông nhiễm HIV/AIDS: là cụm từ chỉ toàn bộ các hoạt động dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS. Dự phòng HIV/AIDS : Bao gồm các hoạt động nhằm ngăn cản quá trình HIV xâm nhập vào cơ thể người trong đó có các hành động ngăn chặn trực tiếp như: Dùng vắc xin để ngăn cản HIV xâm nhập vào tế bào ( hiện nay chưa thực hiện được). Chặn các con đường có thể đưa HIV vào cơ thể như: Sàng lọc máu trước khi truyền hoặc các bộ phận, các mô, tinh trùng trước khi cấy ghép; khử trùng hoặc dùng riêng các dụng cụ y tê' và dụng cụ khác có xuyên chích qua da như kim châm, kim xăm.
; thực hiện an toàn tình dục. Các hoạt động dự phòng từ xa nhằm tránh các hành vi có thể tiếp cận các con đường đưa HIV vào cơ thể hoặc có nguy cơ cao làm lan truyền HIV từ người này sang ng ười khác nh ư tiêm chích ma tuý, QHTD với nhiều người nhất là với những người mua - bán dâm, đồng tính luy ến ái không an toàn. [11] Có thể phân chia hoạt động dự phòng theo lĩnh vực hoạt động: Dự phòng xã hội bao gổm các hoạt động tuyên truyền, vận động xã h ội th ực hi ện các hành vi an toàn phòng tránh sự lây lan của HIV như sống chung thuỷ, lành mạnh, không quan h ệ tình dục với người mua bán dâm, không sử dụng ma tuý.nếu không giữ đ ược thì ít nh ất là ph ải dùng bơm kim tiêm riêng trong tiêm chích và dùng bao cao su trong quan hệ tình dục, dùng dụng cụ tiêm 4 chích qua da riêng khi đến các dịch vụ thẩm mỹ, cạo râu; dùng bàn chải đánh răng riêng. Dự phòng y tế bao gồm toàn bộ các hoạt động trong lĩnh v ực y t ế nh ư tuyên truy ền giáo dục cho nhân viên y tế về y đức về trách nhiệm trong việc tránh làm lây chéo HIV qua các dịch vụ y tế; hướng dẫn cho họ các biện pháp phòng tránh sự lây lan của HIV; kiểm tra, giám sát việc th ực hiên các hành vi an toàn trong các thao tác y tế, nhất là các thao tác có liên quan đến máu và dịch sinh dục.
Chống HIV/AIDS: Bao gồm các hoạt động nhằm tiêu diệt HIV, ch ữa trị AIDS ( hiện nay chưa thực hiện được) và hạn chê' tác hại do HIV/AIDS gây ra đối với kinh tế xã hội, như chăm sóc người nhiễm, làm châm quá trình tiến triển của bệnh, sử lý các vấn đề kinh tế xã hội có liên quan đến HIV/AIDS. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục ( LTĐTD): Gồm các bệnh truyền nhiễm lây qua QHTD do các tác nhân khác nhau (vi khuẩn, vi rút, nấm. Các bệnh LTĐTD hay gặp hiện nay là: lậu, giang mai, sùi mào gà, hạ cam, heipec, HIV/AIDS. Từ khái niêm này và các đặc điểm dịch tễ học của HIV cho thấy các bệnh LTĐTD không những chỉ là điều kiện, là môi trường thuận lợi cho sự lây nhiễm HIV mà còn là dự báo quan trọng về nguy cơ lan truyền HIV/AIDS.
An toàn tình dục (ATTD): ATTD được hiểu là “ Những cách đạt được khoái cảm tình dục nhưng không để cho máu hoặc dịch sinh dục của người này xâm nhập vào cơ thể cuả người kia nhằm làm giảm thiểu sự lây lan của các mầm bệnh nhất là HIV/AIDS” [32]. Các tài liệu PC AIDS hiện nay nêu rất nhiều và cụ thể các dạng sinh hoạt tình dục đảm bảo an toàn mà v ẫn có khoái c ảm, nh ưng nhìn chung, khái niệm ATTD bao gổm các cấp độ khác nhau và từ đó có độ an toàn khác nhau , theo th ứ t ự sau: Không quan hệ tình dục. Sống thuỷ chung, chỉ quan hệ tình dục với một người (từ cả hai phía nam và nữ). Không quan hê tình dục có xâm nhập (kể cả xâm nhập vào miệng, hâu môn hay âm đ ạo).
Mọi quan hệ tình dục có xâm 5 nhập đều phải dùng các loại BSC thích hợp và đúng cách.Như vây, nếu đảm bảo ATTD thì chúng ta có thể ngăn chặn được một trong những con đường chính là lây truyền HIV/AIDS. Điều đó có nghĩa là giáo dục về ATTD là một bộ phận quan trọng không thê thiếu trong các nội dung GDPC AIDS và phòng chống các bệnh LTĐTD nói chung. Tiêm chích an toàn (TCAT) Đây cũng chính là một khái niệm mới xuất hiên trong thời đại có AIDS, nhất là khi người ta nhận ra rằng, đại đa số (khoảng 60-65%) người nhiễm HIV trên thế giới hiện nay là b ị lây qua hành vi tiêm chích ma tuý. Do vậy, lúc đầu khái niệm TCAT chủ yếu được dùng đ ể khuyên ng ười nghiên ma tuý tránh bị lây nhiễm HIV/AIDS hoặc làm lan truy ền HIV sang ng ười khác, bao g ồm (xếp theo mức độ an toàn): Tốt nhất là đừng bao giờ sử dụng ma tuý.
Nếu đã sử dụng phải cai ngay. Nếu không cai được thì chỉ hút, hít.chứ đừng bao giờ chích. Nếu chích thì đừng bao giờ dùng chung bom kim tiêm (BKT). Nếu dùng chung bơm kim tiêm thì BKT đó phải được khử trùng đúng cách (luộc 20 phút kể từ sau khi nước sôi, khử trùng bằng dung dịch Javen 1%.
về sau, khái niệm này được mở rộng sang các lĩnh vực khác, với nội dung chủ yếu là tất cả BKT và các dụng cụ xuyên chích qua da hoặc có thể gây chảy máu (như dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ truyền dịch, dụng cụ nha khoa, kim châm cứu; dao cạo râu, dụng cụ xăm mình, lông mi, lông mày, xăm môi, bàn chải răng.) đều phải được dùng riêng hoặc phải được tiệt trùng đúng cách ngay trước mỗi khi sử dụng. Đây cũng chính là một trong những nội dung quan trọng của GDPC AIDS cho tất cả mọi người, nhất là TTN [7,t20]. Tính nghiêm trọng của đại dịch AIDS: Dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ những năm 80 nhưng đã nhanh chóng lan ra toàn cầu. HIV tấn công mọi đối tượng như phụ nữ, trẻ em, thanh niên, ng ười có tu ổi, làm các ngh ề khác nhau, ở những người đồng tính luyến ái, nghiện chích ma tuý.
Dịch liên tục phát triển cả về không gian, thời gian và trở thành một đại dịch nguy hiểm. Đại dịch này bao gồm nhiều vụ dịch xảy ra ở từng phần của tìmg nước, từng lục địa, có phương thức lây truyền, biểu hiên lâm 6 sàng, đặc trưng riêng phụ thuộc vào nguồn gốc virus, đối tượng nhiễm, điều kiện kinh tế xã hội, tập quán kinh tế của từng nước. Do thời gian ủ bệnh kéo dài (8-15 năm), khó phát hiện, phương thức lây truyền phức tạp, thiếu biện pháp phòng chống hữu hiệu nên số người nhiễm HIV/AIDS và tử vong vì AIDS ngày càng cao. Dịch không chỉ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của nhân dân mà còn gây tác hại lớn đối với phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, nòi giống và trở thành hiểm hoạ của loài người [22].
Uơc tính hiện nay khoảng 3 triệu trẻ em trên thế gi ới đã nhi ễm HIV/AIDS, 9 tri ệu tr ẻ em mồ côi và hàng chục triệu trẻ em đang sống trong các gia đình mà b ố, m ẹ ho ặc c ả 2 đ ều nhi ễm HIV/AIDS. Xu thế của đại dịch từ nay đến năm 2005 là tiếp tục tấn công trên quy mô toàn cầu, tác động vào hàng triệu gia đình và lứa tuổi lao động sung sức nhất, làm xu ất hi ện trẻ em mồ côi và người già không nơi nương tựa. Đại dịch đang chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Châu Á gây tác động nghiêm trọng, ở An Độ với ước tính 3 triệu người nhiễm HIV, ở Thái Lan với khoảng 1 triệu người nhiễm HIV.