ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS xuất hiện trên thế giới đã gần 30 năm, cho đến nay loài người vẫn chưa ngăn chặn được, nó vẫn tiếp tục có những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, sau những nổ lực cam kết mạnh mẽ của các quốc gia trong cuộc chiến với đại dịch HIV/AIDS, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng kể trong công tác phòng chống HIV/AIDS [32]. Hiện nay, tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, số lượng người nhiễm HIV ngày càng tăng cao, có mặt ở khắp nơi, phần đông là người trẻ, đang trong độ tuổi lao động. Mặc dù, mang trong mình loại virus gây bệnh nguy hiểm nhưng họ vẫn có thể sống trong một thời gian dài, nếu được điều trị bằng thuốc Antiretroviral (ARV).
Khi đã bị nhiễm HIV, trong quá trình sống, họ tích lũy được nhiều kinh nghiệm để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống hằng ngày. Do hoàn cảnh dẫn đến nhiễm bệnh khác nhau nên có những khác biệt nhất định trong suy nghĩ, thái độ, hành động khi tham gia phong trào phòng chống HIV/AIDS của những người nhiễm HIV/AIDS. Khi những người nhiễm HIV tham gia vào các hoạt động phong trào này họ dễ dàng chia sẽ những kinh nghiệm với nhau để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, trong phòng bệnh và tuân thủ điều trị [19]. Tại Việt Nam tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 201.134 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 57.579 trường hợp tử vong do AIDS.
So với cùng kỳ năm 2011, số trường hợp được xét nghiệm phát hiện nhiễm trong quý I năm 2012 giảm 1.065 trường hợp, số bệnh nhân AIDS giảm 760 trường hợp, số người tử vong do AIDS giảm 214 trường hợp. Kết quả xét nghiệm qua các năm cho thấy, số trường hợp nhiễm HIV/AIDS và tử vong giảm liên tục trong giai đoạn 2007 - 2010 và tăng nhẹ trong năm 2011. Mặc dù dịch HIV/AIDS tiếp tục có xu hướng giảm cả về số người nhiễm, số bệnh nhân AIDS lẫn tử vong do AIDS, nhưng kết quả này vẫn chưa bền vững. Dịch HIV ở nước ta vẫn tiềm n những nguy cơ bùng phát nếu không có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ và hiệu quả [6].
2 Tại Quảng Nam tình hình nhiễm HIV ngày càng tăng, tập trung ở các đối tượng có nguy cơ cao: tiêm chích ma túy (TCMT), gái mại dâm (GMD) và bạn tình của họ. Tuy nhiên, đã có dấu hiệu cho thấy dịch không chỉ khu trú trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao mà đã lan rộng ra cộng đồng, các trường hợp mắc ngày càng trẻ hóa là lực lượng lao động chính của xã hội. Trong những năm gần đây, đối tượng nhiễm nhiều nhất vẫn là nam giới nghiện chích ma túy. Dịch đã lan ra tất cả các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh đến tận các xã nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Một vài địa phương (thôn, xóm, xã, phường) trên địa bàn tỉnh, dịch đã ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển kinh tế - xã hội tác động đến cuộc sống của người dân và cộng đồng [36]. Cùng với sự phát triển của đại dịch HIV trong cộng đồng, số trường hợp nhiễm HIV ngày càng tăng cao trong Trại tạm giam cũng là mối quan tâm lớn của các ban ngành đặc biệt là ngành Công an. Theo báo cáo của Bệnh xá Trại tạm giam Quảng Nam, tính đến tháng 11 năm 2011 tỷ lệ nhiễm HIV chiếm 2,18%, trong đó, số người nghiện hút ma túy vào Trại ngày càng tăng cao, chiếm 8,51% [1]. Hiện nay, trong điều kiện chưa có vắc xin phòng lây nhiễm HIV và cũng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho người nhiễm HIV, thì việc truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của can phạm nhân là rất quan trọng trong cuộc chiến phòng, chống lây nhiễm HIV.
Để hoạt động này mang lại hiệu quả cao cần đánh giá đúng thực trạng về kiến thức, thái độ, thực hành của can phạm nhân trong công tác phòng, chống lây nhiễm HIV. Tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam số can phạm nhân nghiện hút, tiêm chích ma túy và nhiễm HIV/AIDS vào Trại ngày càng tăng nhưng ngành Y tế tỉnh Quảng Nam chưa có số liệu cụ thể về số trường hợp nhiễm HIV ở những can phạm nhân. Hiện tại, chưa đánh giá được nhận thức và các hành vi có nguy cơ liên quan đến nhiễm HIV/AIDS như tiêm chích ma túy hay quan hệ tình dục không an toàn với gái mại dâm, với người đồng giới, mức độ hoạt động thường xuyên của các hoạt động này trước khi vào Trại như thế nào? Mức độ hiểu biết các biện pháp mà họ đang sử dụng để tránh bị lây nhiễm HIV cho bản thân? Những yếu tố nào ảnh 3 hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống lây nhiễm HIV trong can phạm nhân? Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài:“Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS của can phạm nhân trong Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Quảng Nam năm 2013”. 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS của can phạm nhân trong Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Quảng Nam năm 2013. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS của can phạm nhân trong Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Quảng Nam năm 2013. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu đại dịch HIV Năm 1981, bệnh AIDS được phát hiện đầu tiên tại Hoa Kỳ, sau đó nhanh chóng phát triển ra nhiều thành phố và nhiều nước trên thế giới.
Hiện nay nhiễm HIV/AIDS được xem là đại dịch toàn cầu, ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt đời sống của người dân ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Số người nhiễm HIV và người bệnh AIDS ngày một tăng cao. Một khi HIV xâm nhập vào một người nào đó thì gọi là người nhiễm HIV [8]. HIV là virus gây chậm phát triển, giống Lentivirus, họ Retroviridae.
Ít nhất có hai typ, typ HIV- I được các nhà khoa học Pháp phân lập và xác định đầu tiên vào năm 1983 và sau đó được các nhà khoa học Hoa Kỳ khẳng định vào năm 1984. HIV- I hiện là typ virus gây bệnh phổ biến trên thế giới. Năm 1985, typ HIV- II được nhóm các nhà khoa học nói trên ở Viện Pasteur Paris phân lập ở Tây Châu Phi và thường gây bệnh ở đó [28]. Trong thời gian khoảng 3 tháng sau nhiễm HIV, một số người có dấu hiệu nhiễm khu n cấp và chuyển dần sang thời kỳ nhiễm khu n không triệu chứng.
Tiến trình nhiễm khu n kéo dài trong nhiều năm, thông thường từ 5 - 10 năm sau cho đến khi có triệu chứng của bệnh AIDS xuất hiện. Triệu chứng bệnh AIDS xuất hiện mỗi lúc một nặng dần và cuối cùng là tử vong. Như vậy, khi nói đến AIDS có nghĩa là giai đoạn cuối cùng của tiến triển nhiễm HIV [8]. Dịch tễ học HIV/AIDS 1.
Tác nhân gây bệnh HIV/AIDS - HIV (Human Immunodeficiency Virus) là virus gây ra suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, có kích thước khoảng 80 - 120 nanomet. Nhiễm HIV xảy ra trong khoảng thời gian sống của con người, không phải do di truyền hay khiếm khuyết 6 b m sinh của hệ miễn dịch. HIV chỉ gây ra suy giảm miễn dịch ở người và không gây bệnh cho các loại động vật khác. - AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, do nhiễm HIV gây ra, không phải là hội chứng b m sinh.
AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Nhiễm HIV là nhiễm trùng suốt đời, khác với nhiễm trùng khác, mầm bệnh chỉ tồn tại một thời gian ngắn trong cơ thể, HIV khi đã tích hợp vào bộ gen của tế bào chủ sẽ tồn tại cùng với vật chủ cả đời, do vậy người nhiễm HIV có thể truyền bệnh cho người khác suốt cả đời mình. Quá trình nhân lên của HIV càng tăng khi bệnh nhân bị bội nhiễm thêm các bệnh khác như: lao, viêm gan B, C. và bệnh sẽ tiến triển nhanh hơn và nguy cơ lây truyền bệnh cao hơn chống lại các tác nhân gây bệnh.
Do vậy người bệnh sẽ không có đủ khả năng bảo vệ cơ thể trước các tác nhân gây bệnh có điều kiện thuận lợi bùng phát như: lao, viêm gan. Đường lây truyền HIV/AIDS [15] HIV có thể tìm thấy trong máu và các sản ph m của máu, tinh dịch, dịch âm đạo, nước bọt, nước mắt, dịch não tủy, nước tiểu, sữa mẹ. Tuy nhiên chỉ có 3 phương thức lây được xác định là: - Lây truyền qua đường tình dục: tính chung trên thế giới, tỷ lệ lây truyền HIV qua đường tình dục khác giới chiếm 71%, qua tình dục đồng giới (nam) chiếm 15%. Nguy cơ lây nhiễm HIV tăng lên khi có bệnh lý gây viêm nhiễm ở bộ phận sinh dục, có vết sây sát xảy ra khi giao hợp hoặc có QHTD với nhiều người… - Lây truyền qua đường máu: do truyền máu và các sản ph m của máu, ghép tạng…, không kiểm soát được HIV, do dùng chung BKT, kim châm cứu, kim xăm da… - Lây truyền từ mẹ bị nhiễm HIV sang con: người mẹ nhiễm HIV có thể truyền cho con trong thời kỳ mang thai, trong khi đẻ và cũng đã được xác nhận có thể lây sau khi đẻ do trẻ bú sữa mẹ.
7 Ngoài các phương thức lây truyền kể trên, hiện nay chưa xác định được các phương thức lây nhiễm khác như qua đường hô hấp, qua muỗi hoặc côn trùng đốt, hôn, dùng chung bát, đũa. Mô hình dịch tể học trong nhiễm HIV [18], [16] Dựa vào thời điểm xuất hiện và các phương thức lây truyền có 3 mô hình dịch tễ học trong nhiễm HIV như sau: - Mô hình 1: chủ yếu ở Châu Mỹ, Úc và các nước Tây Âu. Dịch phát hiện sớm từ đầu những năm 1980, lây truyền chủ yếu qua đường tình dục đồng giới và TCMT sau đó lây qua QHTD khác giới do vậy tỷ lệ nhiễm HIV ở nam cao hơn nữ. - Mô hình 2: gặp ở Châu Phi là vùng cận sa mạc Sahara.
Dịch lây truyền chủ yếu qua QHTD khác giới, qua các dụng cụ xuyên chích không vô trùng, nên tỷ lệ nhiễm HIV ở nam và nữ là như nhau. - Mô hình 3: xuất hiện ở các vùng còn lại của thế giới. Dịch xuất hiện muộn hơn vào những năm 1990 do lây truyền HIV từ các nơi khác đến qua du lịch.