Đánh giá can thiệp tăng cường kết nối tới điều trị hivaids của người nhiễm hiv tại tỉnh ninh bình năm 2014 2017

Đánh giá can thiệp tăng cường kết nối điều trị HIV/AIDS tại Ninh Bình giai đoạn 2014-2017, phân tích hiệu quả và tác động đến người nhiễm.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

321
5
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm/thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1. Tư vấn và xét nghiệm HIV

1.1.2. Ý nghĩa và nguyên tắc tư vấn xét nghiệm HIV

2. KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Thiết kế nghiên cứu

3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

3.5. Phương pháp và công cụ đánh giá trước can thiệp

3.6. Khung logic, giải pháp và công cụ can thiệp

3.7. Phương pháp và công cụ đánh giá sau can thiệp

3.8. Quy trình thu thập thông tin và điều tra viên

3.9. Xử lý và phân tích số liệu

3.10. Vấn đề đạo đức

4. THỰC TRẠNG KẾT NỐI TỚI ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI NHIỄM HIV TẠI NINH BÌNH TRƯỚC CAN THIỆP

4.1. Một số đặc điểm nhân khẩu học của người nhiễm HIV trước can thiệp

4.2. Kết nối tới điều trị HIV của người nhiễm năm 2014 tại Ninh Bình

4.3. Rào cản kết nối tới điều trị HIV của người nhiễm năm 2014 tại Ninh Bình (trước can thiệp)

4.4. Kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV và sợ lộ tình trạng nhiễm

4.5. Nhận thức không đầy đủ của người nhiễm về ý nghĩa, tầm quan trọng của điều trị HIV

4.6. Người nhiễm chưa hài lòng, chưa tin tưởng dịch vụ tư vấn xét nghiệm và điều trị HIV

4.7. Chuyển gửi từ tư vấn xét nghiệm tới điều trị chưa hiệu quả

4.8. Hỗ trợ đồng đẳng chưa hiệu quả

4.9. Hỗ trợ của gia đình và cộng đồng còn hạn chế

5. KẾT NỐI TỚI ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI NHIỄM TẠI NINH BÌNH SAU CAN THIỆP

5.1. Một số đặc điểm của người nhiễm HIV trước và sau can thiệp

5.2. Kết quả kết nối người nhiễm tới điều trị HIV trước và sau can thiệp

6. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP TĂNG CƯỜNG KẾT NỐI NGƯỜI NHIỄM TỚI ĐIỀU TRỊ HIV

6.1. Thử nghiệm sử dụng phần mềm hỗ trợ quản lý và theo dõi hoạt động chuyển gửi người nhiễm (phần mềm ACIS)

6.2. Đào tạo nâng cao kiến thức, thực hành cho cán bộ y tế về tư vấn sau xét nghiệm, chuyển gửi, điều trị HIV, bảo mật thông tin người nhiễm và chống kỳ thị liên quan đến HIV

6.3. Tập huấn cho đồng đẳng viên/nhân viên tiếp cận cộng đồng về điều trị HIV và tư vấn, chuyển gửi người nhiễm kết nối sớm tới điều trị HIV

6.4. Kết quả về sự hài lòng và thay đổi nhận thức của người nhiễm về điều trị HIV

6.5. Đánh giá về tính phù hợp và khả năng duy trì của hoạt động can thiệp thực hiện trong nghiên cứu

6.6. Đánh giá về tính phù hợp của các hoạt động can thiệp

6.7. Đánh giá về tính duy trì của các hoạt động can thiệp

6.8. Đặc điểm nhân khẩu học của người nhiễm trước và sau can thiệp

6.9. Rào cản kết nối người nhiễm tới điều trị HIV trước và sau can thiệp

6.9.1. Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS

6.9.2. Nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ của người nhiễm và gia đình về điều trị HIV

6.9.3. Người nhiễm chưa hài lòng với chất lượng dịch vụ tư vấn xét nghiệm và điều trị HIV

6.9.4. Thiếu tư vấn sau xét nghiệm và chuyển gửi chưa hiệu quả

6.9.5. Gia đình người nhiễm thiếu thông tin về điều trị HIV

6.9.6. Sự tham gia hỗ trợ người nhiễm HIV của cộng đồng còn hạn chế

6.10. Kết nối người nhiễm từ xét nghiệm tới điều trị HIV trước và sau can thiệp

6.11. Kết quả kết nối tới điều trị HIV sớm sau xét nghiệm dương tính

6.12. Thời gian và tình trạng sức khoẻ khi kết nối điều trị của người nhiễm trước và sau can thiệp

6.13. Khác biệt về giới trong kết nối từ xét nghiệm tới điều trị của người nhiễm

6.14. Một số lưu ý khi phiên giải số liệu về kết nối điều trị HIV của nghiên cứu

6.15. Kết quả và tính phù hợp, khả năng duy trì của các can thiệp triển khai trong nghiên cứu

6.16. Can thiệp thông qua phần mềm chuyển gửi người nhiễm ACIS

6.17. Can thiệp thông qua tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho cán bộ y tế

6.18. Can thiệp thông qua tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho đồng đẳng viên/nhân viên tiếp cận cộng đồng

6.19. Hạn chế của nghiên cứu

6.20. Đóng góp của luận án

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đánh Giá Can Thiệp Kết Nối Điều Trị HIV AIDS

HIV/AIDS vẫn là một vấn đề sức khỏe toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đến cuối năm 2017, ước tính có 36.9 triệu người nhiễm HIV trên toàn cầu, và 35 triệu người đã tử vong vì AIDS. Tại Việt Nam, tính đến 30/6/2017, số người nhiễm HIV còn sống là 209.591. Việc kết nối sớm người nhiễm HIV đến điều trị ARV là vô cùng quan trọng. Điều trị ARV có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus, phục hồi chức năng miễn dịch, giúp người nhiễm duy trì sức khỏe và cải thiện chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu còn cho thấy điều trị ARV làm giảm đến 95% khả năng lây nhiễm HIV. Tuy nhiên, việc kết nối người nhiễm HIV đến điều trị còn gặp nhiều rào cản, dẫn đến việc trì hoãn điều trị.

1.1. Tầm quan trọng của việc kết nối sớm điều trị ARV

Việc kết nối sớm người nhiễm HIV đến điều trị ARV mang lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, nó giúp ức chế sự nhân lên của virus HIV, làm chậm quá trình tiến triển thành AIDS. Thứ hai, nó phục hồi chức năng miễn dịch, giúp người bệnh khỏe mạnh hơn. Thứ ba, nó làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho người khác. Do đó, việc đảm bảo người nhiễm HIV được tiếp cận điều trị ARV càng sớm càng tốt là rất quan trọng.

1.2. Mục tiêu 90 90 90 và vai trò của can thiệp kết nối

Mục tiêu 90-90-90 của Liên Hợp Quốc hướng tới năm 2020 đặt ra các mục tiêu đầy tham vọng: 90% số người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm của mình, 90% số người đã chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị ARV liên tục, và 90% số người điều trị ARV kiểm soát được tải lượng virus. Để đạt được các mục tiêu này, việc tăng cường kết nối người nhiễm HIV từ xét nghiệm đến điều trị là yếu tố then chốt. Các can thiệp hiệu quả cần tập trung vào việc loại bỏ các rào cản tiếp cận dịch vụ và cải thiện chất lượng chăm sóc.

II. Thách Thức Rào Cản Kết Nối Điều Trị HIV AIDS tại Ninh Bình

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc hỗ trợ người nhiễm HIV kết nối tới điều trị sau khi xét nghiệm dương tính còn chưa được chú ý. Họ phải đối mặt với nhiều rào cản dẫn tới việc trì hoãn điều trị. Tại Việt Nam, năm 2014, trên 50% người nhiễm bắt đầu điều trị ARV có xét nghiệm CD4<100 tế bào/mm3. Thu hẹp khoảng trống từ xét nghiệm tới điều trị HIV là một trong những ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Ninh Bình là 1 trong 10 tỉnh có số người phát hiện nhiễm HIV năm 2013 tăng cao nhất so với năm 2012 trên toàn quốc.

2.1. Kỳ thị và phân biệt đối xử ảnh hưởng đến tiếp cận điều trị

Kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS là một trong những rào cản lớn nhất khiến người nhiễm HIV trì hoãn hoặc từ chối điều trị. Sợ bị kỳ thị, xa lánh từ gia đình, bạn bè và cộng đồng khiến người nhiễm HIV giấu diếm tình trạng bệnh của mình và không tìm kiếm sự hỗ trợ y tế. Các chương trình can thiệp cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng về HIV/AIDS và giảm kỳ thị đối với người nhiễm.

2.2. Thiếu thông tin và nhận thức về lợi ích của điều trị ARV

Nhiều người nhiễm HIV còn thiếu thông tin và nhận thức đầy đủ về lợi ích của điều trị ARV. Họ có thể không biết rằng điều trị ARV giúp kéo dài tuổi thọ, cải thiện sức khỏe và giảm nguy cơ lây nhiễm cho người khác. Việc cung cấp thông tin chính xác và dễ hiểu về điều trị ARV là rất quan trọng để khuyến khích người nhiễm HIV tham gia điều trị.

2.3. Khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế và chi phí điều trị

Việc tiếp cận các dịch vụ xét nghiệm và điều trị HIV có thể gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với những người sống ở vùng sâu vùng xa hoặc những người thuộc các nhóm yếu thế. Chi phí đi lại, xét nghiệm và thuốc men cũng có thể là một gánh nặng đối với nhiều người. Các chương trình cần đảm bảo dịch vụ y tế dễ tiếp cận và chi phí điều trị được hỗ trợ để mọi người nhiễm HIV đều có cơ hội được điều trị.

III. Phương Pháp Can Thiệp Kết Nối Điều Trị HIV AIDS Hiệu Quả

Để tăng cường kết nối người nhiễm HIV đến điều trị, cần có những giải pháp can thiệp phù hợp. Các can thiệp này cần tập trung vào việc giảm thiểu các rào cản tiếp cận dịch vụ, cải thiện chất lượng chăm sóc và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này đánh giá một số giải pháp can thiệp đã được triển khai tại Ninh Bình, bao gồm sử dụng phần mềm hỗ trợ quản lý và theo dõi hoạt động chuyển gửi người nhiễm (phần mềm ACIS), đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ y tế, và tập huấn cho đồng đẳng viên/nhân viên tiếp cận cộng đồng.

3.1. Ứng dụng phần mềm ACIS trong quản lý và chuyển gửi bệnh nhân

Phần mềm ACIS (Phần mềm hệ thống kết nối thông tin y tế) được sử dụng để hỗ trợ quản lý và theo dõi hoạt động chuyển gửi người nhiễm HIV từ các cơ sở xét nghiệm đến các phòng khám ngoại trú. Phần mềm này giúp theo dõi quá trình chuyển gửi bệnh nhân, đảm bảo không bỏ sót và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ sở y tế.

3.2. Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế về tư vấn và điều trị

Đào tạo nâng cao kiến thức, thực hành cho cán bộ y tế về tư vấn sau xét nghiệm, chuyển gửi, điều trị HIV, bảo mật thông tin người nhiễm và chống kỳ thị liên quan đến HIV là một giải pháp quan trọng. Cán bộ y tế được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để tư vấn hiệu quả cho người nhiễm HIV, giải đáp thắc mắc và khuyến khích họ tham gia điều trị.

3.3. Tăng cường vai trò của đồng đẳng viên và nhân viên cộng đồng

Tập huấn cho đồng đẳng viên/nhân viên tiếp cận cộng đồng về điều trị HIV và tư vấn, chuyển gửi người nhiễm kết nối sớm tới điều trị HIV giúp họ trở thành những người hỗ trợ đắc lực cho người nhiễm HIV. Đồng đẳng viên và nhân viên cộng đồng có thể tiếp cận người nhiễm HIV tại cộng đồng, cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ họ vượt qua các rào cản để tham gia điều trị.

IV. Kết Quả Hiệu Quả Can Thiệp Kết Nối Điều Trị HIV AIDS

Nghiên cứu này đánh giá kết quả của các hoạt động can thiệp tăng cường kết nối người nhiễm tới điều trị HIV, bao gồm thử nghiệm sử dụng phần mềm ACIS, đào tạo cho cán bộ y tế và tập huấn cho đồng đẳng viên. Kết quả cho thấy sự hài lòng và thay đổi nhận thức của người nhiễm về điều trị HIV. Nghiên cứu cũng đánh giá về tính phù hợp và khả năng duy trì của các hoạt động can thiệp.

4.1. Tác động của can thiệp đến tỷ lệ tiếp cận điều trị ARV

Sau khi triển khai các can thiệp, tỷ lệ người nhiễm HIV tiếp cận điều trị ARV đã tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy các can thiệp đã giúp giảm thiểu các rào cản tiếp cận dịch vụ và khuyến khích người nhiễm HIV tham gia điều trị. Nghiên cứu cần phân tích cụ thể những yếu tố nào trong can thiệp đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tăng tỷ lệ tiếp cận điều trị.

4.2. Thay đổi trong thời gian từ xét nghiệm đến điều trị ARV

Thời gian từ khi người nhiễm HIV được xét nghiệm dương tính đến khi bắt đầu điều trị ARV là một chỉ số quan trọng. Can thiệp thành công sẽ giúp rút ngắn thời gian này, đảm bảo người nhiễm HIV được điều trị càng sớm càng tốt. Nghiên cứu cần so sánh thời gian từ xét nghiệm đến điều trị trước và sau can thiệp để đánh giá hiệu quả của can thiệp.

4.3. Ảnh hưởng của can thiệp đến chất lượng cuộc sống của người nhiễm

Điều trị ARV không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống của người nhiễm HIV. Nghiên cứu cần đánh giá ảnh hưởng của can thiệp đến các khía cạnh khác nhau của chất lượng cuộc sống, bao gồm sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, mối quan hệ xã hội và khả năng làm việc.

V. Ứng Dụng Kinh Nghiệm Từ Ninh Bình Cho Các Địa Phương

Kết quả nghiên cứu tại Ninh Bình cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác trong việc triển khai các chương trình can thiệp tăng cường kết nối người nhiễm HIV đến điều trị. Các địa phương có thể học hỏi cách sử dụng phần mềm ACIS để quản lý và theo dõi hoạt động chuyển gửi bệnh nhân, nâng cao năng lực cho cán bộ y tế và tăng cường vai trò của đồng đẳng viên.

5.1. Tính phù hợp của các giải pháp can thiệp trong bối cảnh địa phương

Các địa phương cần đánh giá tính phù hợp của các giải pháp can thiệp trong bối cảnh của mình. Các giải pháp có thể cần được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và nguồn lực của từng địa phương.

5.2. Khả năng mở rộng và duy trì các hoạt động can thiệp

Các địa phương cần xem xét khả năng mở rộng và duy trì các hoạt động can thiệp trong dài hạn. Các hoạt động can thiệp cần được tích hợp vào hệ thống y tế hiện có và có nguồn tài chính bền vững.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Kết Nối Điều Trị HIV AIDS Tại VN

Nghiên cứu "Đánh giá can thiệp tăng cường kết nối tới điều trị HIV/AIDS của người nhiễm HIV tại tỉnh Ninh Bình năm 2014-2017" đã cung cấp những bằng chứng khoa học quan trọng về hiệu quả của các giải pháp can thiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng phần mềm ACIS, đào tạo cho cán bộ y tế và tập huấn cho đồng đẳng viên có thể giúp tăng cường kết nối người nhiễm HIV đến điều trị. Các địa phương khác có thể học hỏi kinh nghiệm từ Ninh Bình để triển khai các chương trình can thiệp hiệu quả hơn.

6.1. Tiếp tục nghiên cứu và đánh giá các mô hình can thiệp mới

Cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá các mô hình can thiệp mới để tìm ra những giải pháp hiệu quả hơn nữa trong việc tăng cường kết nối người nhiễm HIV đến điều trị. Các nghiên cứu cần tập trung vào các nhóm đối tượng đặc biệt, như người trẻ tuổi, người thuộc các nhóm yếu thế và người sống ở vùng sâu vùng xa.

6.2. Tăng cường phối hợp giữa các bên liên quan trong phòng chống HIV AIDS

Việc phòng chống HIV/AIDS đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, bao gồm các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các cơ sở y tế và cộng đồng. Cần tăng cường sự phối hợp này để đảm bảo người nhiễm HIV được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc và điều trị toàn diện.

28/05/2025
Đánh giá can thiệp tăng cường kết nối tới điều trị hivaids của người nhiễm hiv tại tỉnh ninh bình năm 2014 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm/thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu 1.1 Tư vấn và xét nghiệm HIV: 1. Ý nghĩa và nguyên tắc tư vấn xét nghiệm HIV: Tư vấn và xét nghiệm HIV (TVXN HIV) là một thành tố quan trọng, là điểm đầu tiên của chu trình chăm sóc, điều trị liên tục và toàn diện cho người nhiễm.

Mở rộng tư vấn và xét nghiệm HIV sẽ mang tới cơ hội chẩn đoán và điều trị sớm hơn cho người nhiễm HIV đồng thời tối ưu hoá hiệu quả điều trị và dự phòng của chương trình điều trị [4]. - Tư vấn về HIV/AIDS là quá trình trao đổi, cung cấp các kiến thức, thông tin cần thiết về phòng, chống HIV/AIDS giữa người tư vấn và người được tư vấn nhằm giúp người được tư vấn tự quyết định, giải quyết các vấn đề liên quan đến dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV [4]. - Xét nghiệm HIV là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định tình trạng nhiễm HIV trong mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người [1]. Mọi hình thức tư vấn và xét nghiệm HIV đều phải tuân thủ nghiêm ngặt và đồng bộ 5 nguyên tắc: đồng thuận, bảo mật, tư vấn, chính xác và kết nối với chăm sóc, điều trị [4].

Hình thức tư vấn xét nghiệm HIV: - Tư vấn xét nghiệm HIV do khách hàng đề xuất: là hình thức TVXN HIV do khách hàng chủ động tìm đến để được tư vấn và xét nghiệm HIV, có thể tại phòng TVXN HIV tự nguyện, cơ sở y tế, điểm tư vấn xét nghiệm HIV lưu động,. - Tư vấn và xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất: Là hình thức tư vấn và xét nghiệm HIV do cán bộ y tế chủ động đề xuất với người đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Dịch vụ TVXN HIV thường được cung cấp tại cơ sở y tế, tuy nhiên cũng có thể được cung cấp tại cộng đồng, ngoài cơ sở y tế [3],[4]. Quy trình tư vấn xét nghiệm HIV Theo quy định, tất cả các trường hợp làm xét nghiệm HIV đều phải được tư vấn trước và sau xét nghiệm.

Tất cả các hình thức TVXN HIV đều cần tuân thủ theo quy trình sau: - Tư vấn trước xét nghiệm - Thực hiện xét nghiệm HIV - Trả kết quả, tư vấn sau xét nghiệm (tuỳ theo kết quả dương tính/âm tính) - Chuyển gửi khách hàng tới các cơ sở dự phòng, điều trị HIV/AIDS và các dịch vụ hỗ trợ liên quan khác theo nhu cầu, tình trạng sức khoẻ - Tư vấn hỗ trợ, theo dõi tiếp tục các trường hợp HIV dương tính [3],[4]. Chẩn đoán nhiễm HIV: Một người được chẩn đoán nhiễm HIV khi có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với HIV được thực hiện bởi các phòng xét nghiệm chuẩn thức quốc gia được Bộ Y tế cấp phép, theo đúng phương cách quốc gia như quy định [3],[4],[5]. Trong nghiên cứu này, bên cạnh thuật ngữ thường sử dụng phổ biến để nói về đối tượng đích của nghiên cứu là người nhiễm HIV, còn 1 số thuật ngữ khác cũng được sử dụng như: người có kết quả xét nghiệm HIV dương tính hoặc người được chẩn đoán dương tính với HIV nhằm nhấn mạnh mục đích của nghiên cứu là tăng cường kết nối sớm tới điều trị sau khi người nhiễm xét nghiệm và biết được tình trạng HIV của mình. Điều trị HIV: Nguyên tắc chăm sóc và điều trị cho người nhiễm là liên tục và toàn diện (hình 1.

Người nhiễm khi phát hiện dương tính với HIV cần đến cơ sở y tế để được điều trị càng sớm càng tốt. Đến nay vẫn chưa có vắc-xin phòng hoặc thuốc chữa khỏi tình trạng nhiễm HIV nhưng điều trị bằng thuốc kháng vi-rút (gọi tắt là điều trị ARV) được chứng minh là liệu pháp tối ưu giúp cải thiện tình trạng sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nhiễm. Điều trị ARV là liệu pháp kháng vi-rút sao chép ngược, sử dụng phối hợp ba hoặc nhiều loại 7 thuốc kháng vi-rút để ức chế vi-rút và phải điều trị suốt đời. Mục đích của điều trị ARV là ức chế sự nhân lên của vi-rút và kìm hãm lượng vi trong máu ở mức thấp nhất; phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội từ đó cải thiện chất lượng sống và tăng khả năng sống sót cho người bệnh.

Thuật ngữ điều trị HIV và điều trị ARV thường được sử dụng có ý nghĩa tương tự vì mục đích quan trọng nhất của điều trị HIV là người nhiễm được tham gia, duy trì và tuân thủ lâu dài điều trị ARV [121],[122]. Tư vấn, Chăm sóc trước điều trị ARV Điều trị ARV XN HIV Đủ tiêu Bắt đầu điều trị Điều trị Đánh giá tiêu chuẩn ARV suốt đời Chẩn chuẩn điều trị Khách đoán ARV: dương hàng tính với - Giai đoạn lâm HIV sàng -Định lượng CD4 Chưa đủ Duy trì đến khi đủ tiêu tiêu chuẩn chuẩn điều trị ARV Hình 1. Quy trình chăm sóc và điều trị liên tục cho người nhiễm HIV Khi tới các cơ sở điều trị HIV, người nhiễm được khám, đánh giá tình trạng sức khoẻ và nếu đủ tiêu chuẩn sẽ đưa vào điều trị ARV. Nếu chưa đủ tiêu chuẩn, người nhiễm sẽ được quản lý sức khoẻ, theo dõi và thăm khám định kỳ, đánh giá tiêu chuẩn điều trị ARV [3].

Tiêu chuẩn điều trị ARV: được quy định dựa trên 2 chỉ số chính là kết quả xét nghiệm số tế bào lympho T-CD4 và đánh giá giai đoạn lâm sàng của người nhiễm theo phân loại của WHO (chi tiết xem phụ lục 9). Tiêu chuẩn để người nhiễm được điều trị ARV tại Việt Nam trong thời gian nghiên cứu như sau: 8 • Giai đoạn trước can thiệp (1/2014-7/2015): Quyết định 4139/QĐ-BYT ngày 02/11/2011 quy định: - Người nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 ≤ 350 tế bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng hoặc, - Người nhiễm HIV ở giai đoạn lâm sàng 3,4 không phụ thuộc số lượng tế bào CD4 [2]. • Giai đoạn sau can thiệp (từ tháng 7/2015-7/2017): tiêu chuẩn được mở rộng hơn theo Quyết định 3047/QĐ-BYT ngày 22/7/2015 như sau: − Người nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 ≤ 500 tế bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng hoặc, − Điều trị không phụ thuộc số lượng tế bào CD4 trong trường hợp: + Giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 bao gồm cả mắc lao + Có biểu hiện của viêm gan B mạn tính nặng + Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú nhiễm HIV + Người nhiễm có vợ/chồng không bị nhiễm HIV + Người nhiễm HIV thuộc các quần thể nguy cơ gồm: nghiện chích ma tuý (NCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD), nam có quan hệ tình dục đồng giới (MSM) + Người nhiễm HIV từ 50 tuổi trở lên + Người nhiễm HIV sinh sống, làm việc tại khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa [4]. Phòng khám ngoại trú HIV/AIDS (PKNT) là cơ sở có chức năng tiếp nhận người nhiễm HIV, quản lý, tư vấn, đánh giá trình trạng sức khoẻ và điều trị kháng HIV, điều trị/dự phòng nhiễm trùng cơ hội, theo dõi điều trị cũng như chuyển gửi các dịch vụ khác khi cần cho người bệnh.

Các phòng khám ngoại trú được đặt tại một cơ sở y tế sẵn có của hệ thống y tế như trong bệnh viện (thường nằm trong khoa lây hoặc khoa khám bệnh), trung tâm phòng chống HIV/AIDS (TTPC HIV/AIDS) tỉnh/thành phố, trung tâm y tế (TTYT) quận/huyện [3],[4]. Kết nối từ chẩn đoán tới điều trị HIV: Tổng quan tài liệu cho thấy thuật ngữ "kết nối" và "tiếp cận" điều trị HIV thường được sử dụng trong các nghiên cứu và có ý nghĩa tương tự nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất [70],[92],[78]. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thuật ngữ "kết nối (linkage) tới điều trị HIV" nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc người nhiễm được điều trị sớm sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính, đảm bảo tính liên tục của chu trình chăm sóc và tối ưu hoá hiệu quả của ARV trong điều trị và dự phòng [34],[66],[71],[122]. Kết nối tới điều trị HIV được định nghĩa là quy trình gồm các hoạt động để hỗ trợ người có kết quả xét nghiệm dương tính vào điều trị, điểm bắt đầu là khi chẩn đoán dương tính và điểm kết thúc là khi người nhiễm tham gia vào điều trị (có thể là trước ARV hoặc điều trị ARV) [51],[100],[117].

Việc kết nối này được thể hiện thông qua việc người nhiễm có tên trong sổ đăng ký điều trị tại phòng khám, có thể là sổ đăng ký trước điều trị ARV hay sổ/bệnh án điều trị ARV. Mất dấu sau chẩn đoán nhiễm HIV: Có nhiều định nghĩa khác nhau về mất dấu trong điều trị HIV [45],[52],[70]. Trong nghiên cứu này, mất dấu sau chẩn đoán nhiễm HIV là các trường hợp khách hàng quay lại nhận kết quả xét nghiệm và biết tình trạng nhiễm HIV nhưng không thực hiện chỉ định chuyển gửi đến cơ sở chăm sóc điều trị HIV (không đến PKNT). Chuyển gửi người nhiễm từ xét nghiệm tới điều trị HIV Trong lĩnh vực HIV/AIDS, chuyển gửi (referal) và kết nối (linkage) là 2 thuật ngữ có ý nghĩa tương tự, trong đó, chuyển gửi góp phần kết nối người nhiễm tới điều trị thành công.

Chuyển gửi được định nghĩa là một quy trình trong đó những nhu cầu tức thời của khách hàng về dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ toàn diện được đánh giá và khách hàng được giúp đỡ để có thể tiếp cận dịch vụ, ví dụ tư vấn về điều trị, đặt hẹn khám hoặc hướng dẫn đi tới các cơ sở cung cấp dịch vụ. Chuyển gửi cũng có thể bao gồm các hoạt động theo dõi phù hợp để hỗ trợ việc liên hệ giữa những đơn vị cung cấp dịch vụ và cung cấp phản hồi giữa khách hàng và cơ sở cung cấp dịch vụ. Những nỗ lực này nhằm giúp người nhiễm nhanh chóng tiếp cận và sử 10 dụng các dịch vụ chăm sóc y tế toàn diện, cần thiết, giảm mất dấu trong quá trình chuyển gửi [38],[51]. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chuyển gửi tập trung vào mối quan hệ từ dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tới điều trị tại phòng khám ngoại trú nhằm đảm bảo những người có kết quả xét nghiệm dương tính được kết nối điều trị HIV sớm nhất.

Tình hình nhiễm HIV trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới: Theo báo cáo cập nhật tình hình dịch HIV/AIDS toàn cầu năm 2016 do Chương trình Phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) công bố, đã có 76,1 triệu người nhiễm HIV kể từ khi bắt đầu dịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Can Thiệp Kết Nối Điều Trị HIV/AIDS Tại Ninh Bình (2014-2017)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của các can thiệp trong việc kết nối người nhiễm HIV/AIDS với các dịch vụ điều trị tại Ninh Bình trong giai đoạn 2014-2017. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các phương pháp can thiệp mà còn đánh giá tác động của chúng đối với sức khỏe cộng đồng, từ đó giúp nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người sống chung với HIV/AIDS.

Để mở rộng thêm kiến thức về các can thiệp và chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng hoạt động câu lạc bộ người nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Thái Bình và hiệu quả một số biện pháp can thiệp, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động của các câu lạc bộ hỗ trợ người nhiễm HIV. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ tiếp cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV tại Hà Nội nghiên cứu trường hợp nhóm bệnh nhân điều trị thuốc kháng virus HIV ARV sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chăm sóc sức khỏe dành riêng cho phụ nữ nhiễm HIV. Những tài liệu này không chỉ bổ sung thông tin mà còn mở ra nhiều khía cạnh mới để bạn khám phá thêm về lĩnh vực này.