Đặt vấn đề Đại dịch HIV/AIDS được biết đến từ những năm 80 của thế kỷ trước. Hơn 30 năm đã trôi qua, hiện nay cả thế giới vẫn phải đương đầu với đại dịch nguy hiểm này. Ở Việt Nam, kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện từ năm 1990 ở thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay con số phát hiện nhiễm mới vẫn liên tục gia tăng. Trong 6 tháng đầu năm 2015, số người xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV 3.204 người, số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS là 1.326 người, số người nhiễm HIV tử vong là 438 và số tử vong báo cáo bổ sung quý II/2015 là 1.
Lũy tích số người nhiễm HIV đang còn sống 227.114 người, số bệnh nhân AIDS là 71.115 và số tử vong 74. So sánh với cùng kỳ năm 2014, số ca nhiễm HIV phát hiện của năm 2015 giảm 47% (1.341 trường hợp); số AIDS được phát hiện giảm 49% (797 trường hợp); số trường hợp tử vong được phát hiện tăng gấp 2,2 lần (772 trường hợp). Trong số người nhiễm HIV phát hiện tập trung chủ yếu ở nam giới (66%), nữ giới (34%). Tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện tiếp tục có xu hướng gia tăng trong nữ giới.
Tỷ lệ người nhiễm HIV được phát hiện lây nhiễm HIV qua đường tình dục là 52%, lây truyền qua đường máu giảm còn 35,4%. Xu hướng lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng liên tục từ 2007 trở lại đây. Nhìn chung, số người nhiễm HIV phát hiện mới tiếp tục có xu hướng giảm, nhưng lũy tích số người nhiễm HIV còn sống tiếp tục gia tăng [1]. Chương trình điều trị bằng thuốc kháng virus HIV với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế đã được triển khai ở Việt Nam và mở rộng nhanh chóng từ năm 2004.
Mạng lưới chăm sóc Y tế, điều trị HIV/AIDS không ngừng mở rộng từ trung ương đến địa phương, góp phần tăng cường mở rộng độ tiếp cận của dịch vụ. Số người nhiễm HIV được tiếp cận điều trị ARV không ngừng 1 z tăng nhanh qua các năm. Tính đến cuối năm 2012, số người nhiễm HIV được tiếp cận và điều trị ARV đã tăng gấp 8 lần so với số bệnh nhân được điều trị năm 2012, chương trình phòng chống HIV/AIDS đã xác định mục tiêu điều trị cho khoảng 111.000 người có nhu cầu điều trị vào năm 2015 và 195.000 có nhu cầu điều trị vào năm 2020 [10]. Người có HIV/AIDS hiện được coi là nhóm dễ bị tổn thương trong cộng đồng và nhận được nhiều sự quan tâm của các tổ chức xã hội và y tế, đặc biệt các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Trong những năm gần đây, do có sự thay đổi trong công tác truyền thông, nên tình trạng kỳ thị với người có HIV đã dần được cải thiện. Nhưng bên cạnh đó, người có HIV vẫn còn gặp rất nhiều rào cản trong việc tiếp cận với cơ hội nghề nghiệp, hòa nhập cộng đồng, chăm sóc sức khỏe và có được cuộc sống bình thường như những người khác, đặc biệt là nhóm phụ nữ nhiễm HIV. Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV đang ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây. Hàng năm, ở Việt Nam có gần 2 triệu phụ nữ mang thai và tỷ lệ hiện mắc HIV/AIDS là 0,25%.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con ước tính khoảng 30% - 45% nếu không có can thiệp. Do đó, mỗi năm có khoảng 1.000 trẻ em bị nhiễm HIV được sinh ra. Gần đây, với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ, Việt Nam đang triển khai mở rộng các dịch vụ đến các tỉnh và quận, huyện, xã phường nhằm tăng cường các hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con như thông tin, giáo dục, truyền thông, tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện, cung cấp thuốc ARV và các dịch vụ chăm sóc và điều trị liên quan đến HIV/AIDS [18]. Đứng về góc độ lâm sàng, nhóm phụ nữ dễ bị lây nhiễm HIV qua đường tình dục hơn là nam giới.
Ngoài nhóm phụ nữ hành nghề mại dâm, nhóm phụ nữ nhiễm HIV từ chồng/ bạn tình chung sống đang ngày càng gia 2 z tăng. Việc không chủ động được việc phòng tránh nhiễm HIV khiến phụ nữ gặp nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận với điều trị, chăm sóc ARV. Trong gia đình, người phụ nữ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, khi họ bị lây nhiễm HIV từ chồng/ bạn tình, nhưng thiếu được cung cấp những thông tin đầy đủ, tiếp cận với điều trị và chăm sóc sức khỏe tinh thần và thể chất trong thời gian điều trị vẫn còn gặp phải nhiều rào cản.
Trong Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2010 và tầm nhìn 2020 có một số mục tiêu, chỉ tiêu vẫn chưa được thực hiện sâu sát và triệt để như: Vẫn còn tiềm ần nhiều nguy cơ làm tăng tình hình dịch HIV/AIDS; Tỷ lệ bao phủ của các chương trình can thiệp cả địa bàn và số lượng can thiệp vẫn còn hạn chế, mức độ hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm có hành vi nguy cơ cao vẫn diễn ra ở các mức độ cho phép khả năng tạo ra lây nhiễm HIV vẫn còn đáng quan ngại; Tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về dự phòng lây nhiễm HIV của đại bộ phận người dân chưa cao, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa; Tỷ lệ tiếp cận điều trị thuốc đặc hiệu kháng VIRUS HIV (ARV), dự phòng lây truyền từ mẹ sang con mới chỉ đạt được 40% - 50% nhu cầu. Với nhóm phụ nữ, chủ yếu những can thiệp trong thời gian vừa qua tập trung vào nhóm có hành vi nguy cơ cao (phụ nữ bán dâm) hoặc dự phòng lây truyền mẹ con, mà ít có chương trình chăm sóc sức khỏe toàn diện, đặc biệt đánh giá khả năng tiếp cận với chăm sóc sức khỏe của nhóm phụ nữ bị lây nhiễm thụ động từ chồng hoặc bạn tình chung sống. Ngoài những khó khăn của bản thân trong việc điều trị mãn tính một căn bệnh tấn công vào hệ miễn dịch, họ còn phải chăm sóc đến bạn tình/chồng cũng đang đồng nhiễm hoặc đồng điều trị ARV. Llý do quan trọng nhất mà chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Tiếp cận chăm sóc sức khỏe của phụ nữ nhiễm HIV tại Hà Nội: Nghiên cứu trường hợp nhóm bệnh nhân điều trị thuốc kháng VIRUS HIV (ARV) tại phòng khám 3 z ngoại trú Nam Từ Liêm - Hà Nội” là tìm hiểu một cách cụ thể việc tiếp cận với chăm sóc sức khỏe của nhóm phụ nữ đã và đang điều trị thuốc ARV tại phòng khám ngoại trú.
Từ đó, chúng tôi cũng phần nào phân tích, đánh giá những yếu tố thuận lợi và thách thức ảnh hưởng đến việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe của nhóm phụ nữ đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Nam Từ Liêm - Hà Nội. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và cơ sở pháp lý 2.1 Ý nghĩa khoa học Chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS không chỉ là vấn đề quan tâm của ngành dịch tễ, y tế công cộng mà còn là vấn đề chung của rất nhiều ngành khoa học, trong đó có xã hội học. Ngoài những vấn đề về chỉ số chăm sóc sức khỏe, luận văn còn nhìn nhận những vấn đề xã hội mà nhóm phụ nữ nhiễm HIV đang đối mặt, trong đó có những phân tích về vấn đề bình đẳng giới, quan niệm xã hội… Những phân tích này hy vọng sẽ đóng góp phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ thêm một số lý thuyết xã hội học, đặc biệt những lý thuyết liên quan đến hành vi.2 Ý nghĩa thực tiễn Hàng năm, Ngân sách nhà nước phải dành ra một khoản không nhỏ trong việc nâng cao nhận thức về phòng chống HIV/AIDS, xét nghiệm tìm những ca nhiễm mới trong cộng đồng; thực hiện các chương trình chăm sóc hỗ trợ điều trị cho người nhiễm. Nhiều tổ chức phi chính phủ đã đầu tư một khoản lớn để đồng hành cùng chính phủ Việt Nam thông qua các chương trình, dự án ngắn, trung và dài hạn.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, những dự án viện trợ nước ngoài đang ngày càng bị cắt giảm. Dịch HIV dường như đang quay trở lại bùng phát hơn và tập trung vào nhóm hành vi lây truyền qua đường tình dục. 4 z Ngày càng nhiều phụ nữ nhiễm HIV được phát hiện và được tiếp cận với chương trình điều trị. Tuy nhiên, những vấn đề xoay quanh cuộc sống làm cho họ trở nên khó khăn hơn trong việc tuân thủ điều trị, hoặc điều trị hỗ trợ trong quá trình theo dõi sức khỏe.
Việc tìm hiểu, phân tích thực trạng tiếp cận chăm sóc sức khỏe của nhóm bệnh nhân này sẽ giúp cho xã hội có cái nhìn toàn diện hơn để có những chương trình cụ thể đồng hành, hỗ trợ họ trong việc điều trị. Thực tế cho thấy nếu người nhiễm HIV có cuộc sống tính cực, được chăm sóc sức khỏe đầy đủ, tuân thủ điều trị sẽ góp phần đảm bảo cho việc sống khỏe, sống tốt của họ. Từ đó sẽ nâng cao năng suất lao động, làm việc của họ, góp phần vào sự phát triển của xã hội.3 Cơ sở pháp lý Việt Nam đã có những tiến bộ lớn trong việc ứng phó với HIV/AIDS. Chính phủ đã thành lập Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS vào năm 1990, năm 2004 đã ban hành Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2000 và tầm nhìn năm 2020 bao gồm chín chương trình hành động đã được đề ra nhằm cung cấp những hướng dẫn chi tiết thực hiện chiến lược.
Luật phòng chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) đã được ban hành trong năm 2006 và Nghị định 108/2007 NĐ- CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người năm 2007. Kết quả của việc cấu trúc lại hệ thống quốc gia phòng chống HIV/AIDS trong năm 2005 là việc thành lập Cục Phòng chống HIV/AIDS trực thuộc Bộ Y tế, cũng như các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS ở các tỉnh năm 2006. Trong giai đoạn 2008 - 2009, nhiều chính sách và văn bản pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành, tạo ra khung pháp lý vững chắc và nhất quán hơn cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS.