Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TONG QUAN LICH SỬ NGHIÊN CỨU VAN DE 1.1, Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết van đề trên thế giới Có rất nhiều công trình khác nhau nghiên cửu về kỹ năng giải quyết van đề trên phương điện lý luận và thực tiễn. Mặc dù có hướng tiếp cận khác nhau nhưng đa số những nhà nghiên cứu đều thống nhất kỹ năng giải quyết van dé là chủ thê giải quyết những van đẻ khác nhau nảy sinh trong cuộc sông gọi là tình huống có van đề. Các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu vẻ các bước, các thao tác, cầu trúc,.
của vấn dé. Một số công trình nghiên cứu của những tác giả nôi tiếng trên thé giới như: Năm 1958, trong một nghiên cứu, X. Rubinstein — một đại diện tiêu biểu của Tâm lý học Macxit đã nhận định rằng tác dụng của tình huống cỏ van đề là “⁄ôi cuốn cả nhân vào quá trình tư duy." [10] vì “Qua trình tư duy bắt dau từ việc phan tích tinh hung có van đề. [10] Sau quá trình nghiên cứu, V.
Cruchetxki (1981) kết luận tinh huỗng có vấn đề xuất hiện ở học sinh khi có sự mẫu thuẫn của những tri thức, kỹ nang, kỳ xảo đã có (kinh nghiệm) với những van đề nảy sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức tạo nên hoạt động tư duy tích cực. Petrovski cũng đưa ra một quan điểm gần với quan điểm của X. Rubinstein (1958), theo ông “tinh huống có van đề là tình hudng được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý xác định của con người, nó kích thích tư duy trước khi con người nảy sinh những mục dich và những điều kiện hoạt động mdi trong đó những phương tiện và phương thực hoạt động trước day mặc dù là cân nhưng chưa đủ đề đạt được mục tiêu mới này "{2} Qua những nghiên cứu trên, cỏ thẻ nhận thấy, theo quan điểm của các nhà Tâm ly học Xô Viết thì đặc trưng cơ bản của tình huống có van dé là sự 7 mâu thuẫn giữa kinh nghiệm đã có của chủ thẻ và tri thức mới. Từ đó, chủ thé nảy sinh nhu cau giải quyết tình huống có van dé, kích thích tư duy và đi đến giải quyết van dé.
Trong khi các nhà Tâm lý học Liên Xô tập trung nghiên cứu kỹ năng giải quyết van đề ở khía cạnh kỹ năng giải quyết các tình huông có vấn đề thì tại Mỹ các nha nghiên cứu lại quan tâm đến việc nghiên cứu kỹ năng giải quyết van dé như một kỹ năng xã hội quan trọng, đa phần các tác giả đều chú trọng tìm ra câu trúc của kỹ năng giải quyết vẫn đề cũng như các bước của kỹ năng giải quyết vấn để và những yếu tố tâm lý tác động đến quá trình giải quyết vấn đề. Những nghiên cứu của các tác giả Mỹ đã đưa ra lời giải cho câu hỏi kỹ năng giải quyết van đề gồm những bước nao, các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vấn dé. Bên cạnh đó, có rất nhiều tác giả khác chú trọng nghiên cứu về những yếu tố tâm lý tác động đến quá trình giải quyết van đề. Một số nhà nghiên cứu còn đi sâu vào tìm hiểu những yếu tô ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đè, đặc biệt là các yếu tổ tâm lý.
Bedoll va Shelley S. Lennox đã xác định kỹ năng giải quyết vấn dé là một kỹ năng quan trọng. Hai tác giả này đã xếp kỹ năng giải quyết van dé là kỹ năng xã hội (Social Skill) thứ 7 trong 10 kỹ năng xã hội không thé thiểu trong cuộc sông. Từ đó, Bedoll va Lennox đã nghiên cứu và đưa ra 7 bước dé giải quyết vấn đề là Nhận thức vé van dé, Định nghĩa vẫn đề, Liên hệ những phương án, Đánh giá những giải pháp, Ra quyết định, Thực hiện giải pháp, Kiểm tra iệu quả của phương án.
[19] Trong một nghiên cứu về ảnh hưởng của khả năng trí tuệ đến việc giải quyết những van dé phức tạp của mỗi người, Dorit Wenke đã cho rằng, khả năng trí tuệ của mỗi người là khả năng, quá trình va cơ chế nhận thức lam cho người này khác với người kia làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vấn đề của mỗi người. [27] Ngoài ra, hai nha nghiên cứu Todd |. Lubart va Christophe Mouchiroud (2005) cũng có dé cập đến sự sáng tạo và cho rang đây là một trong những khả năng ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực đến việc giải quyết vấn đề.{22 Shannon White (2005) khi nghiên cứu về những yếu tế ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết van dé đã cho thấy khả năng biểu đạt vấn đề là một trong những yếu tổ quan trọng ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết van đề. Có thẻ thấy rằng, thông qua những nghiên cứu lý luận của mình những nha nghiên cứu đã góp phan làm rõ thêm thêm những lý luận về kỹ năng giải quyết van đề các bước, các thao tác của ky năng giải quyết van dé và những yêu tổ ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề như tư duy sảng tạo, biểu đạt van đề, trí nhớ,.
Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề tại Việt Nam Khi nghiên cứu lý luận về kỹ năng giải quyết van dé, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng quan tâm nghiên cứu về tình huỗông có vấn đề như các tác giả Xô Viết. Một số tác giả tiêu biểu như Triệu Xuân Quýnh (1993), Nguyễn Quang Uan (1995), Bùi Văn Huệ (1996), Phạm Minh Hạc (1998), Tran Trọng Thủy (1998),. có cùng quan điểm khi cho rằng: tư duy được kích thích bởi tình huéng (hoàn cảnh) có van dé. Tinh hudng có van đề được các nhân nhận thức day đủ, được chuyển thành nhiệm vụ của cá nhân, tức là cá nhân xác định được là cái gì đã biết, và cái gì chưa biết phải tìm, đông thời phải có nhu cau (động cơ) tìm kiểm nó.
[6] Trên cơ sở những lý thyết các tác giả đã có những nghiên cứu thực tiễn trên nhiều lĩnh vực của đòi sống. Giống như những nhà nghiên cứu Liên Xô, 9 những nhà nghiên cứu trong nước cũng đã ứng dụng kỹ năng giải quyết vấn đề vào day học với phương pháp dạy học giải quyết van đề hay còn gọi là dạy học nêu van đề với việc xây dựng những tình hudng có van đề trong quá trình giảng dạy trên lớp. Một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như Lê Thành Trung (2004) với luận án Tiên sĩ Giáo dục học: “Van dung day học nêu van dé vào day học tác phẩm văn chương ở bậc trung học". [21] Tac giả Nguyễn Anh Tuấn quan tâm nghiên cứu việc rèn luyện năng lực giải quyết van dé cho học sinh trong mỗi buổi học với đề tài “Béi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết van dé cho học sinh Trung học cơ sở trong dạy học khái niệm toán học".
[24] Tác giả Cao Đình Hậu nghiên cứu dé tài thạc sĩ “Hinh thành năng lực giải quyết van dé qua day học phan cơ học lớp 10". [1| Qua những nghiên cứu này, các tác giả đều cho thấy giáo viên hoàn toàn có thể nâng cao năng lực giải quyết vấn dé cho học sinh thông qua việc giảng dạy các môn học trong giờ học tại lớp. Tuy nhiên, các đề tài trên chưa đo lường được chính xác mức độ kỹ năng giải quyết van dé của học sinh cũng như những lý luận sâu sắc về con đường hình thành nang lực giải quyết van để cho học sinh mà chỉ dừng lại ở việc xây dựng giáo án với các tình huống có van dé dé kích thích học sinh tìm cách giải quyết. Ngoai ra, nhiều nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đẻ cũng được tiên hành trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, giao tiếp, quản lý.
Việc sử dụng kỹ năng giải quyết van dé trong công tác huấn luyện, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý được nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam quan tâm như Nguyễn Văn Khánh (1986), Trần Văn Hà (1995), Vũ Văn Tảo (1996), Phạm Viết Nhụ (1997). Qua những nghiên cứu lý luận và thực tiễn nêu trên, cho thay mỗi nha nghiên cứu của Việt Nam có một quan điểm riêng cho mình, nhưng có thé tóm tắt quan niệm của những nhà nghiên cứu thành những điểm cơ bản: 10 - Van đẻ là một tình trạng ma con người chưa tim ra được cách thức dé hoàn thành mục đích của mình. - Mọi van đẻ đều chứa đựng tinh huông có van de. - Tinh huéng có van đề chứa đựng mâu thuần giữa cái chủ thê đã biết va cái chưa biết, đòi hỏi chủ thẻ phải tư duy, suy nghĩ để tìm ra cái chưa biết dé đạt được mục dich cho mình.
- Từ vấn dé và tinh huống có van dé là nguồn kích thích tư duy vả hoạt động nhận thức. [22 Như vậy, mặc dù có những đóng gop cho việc dạy học, quản ly hay giao tiếp nhưng một hạn chế trong các nghiên cứu lý luận về kỹ năng giải quyết van de tại Việt Nam là người nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc xây dựng những khác niệm cơ bản nhất về van đề, tình huông có van dé, nhừng yếu tế thúc day quá trình giải quyết van dé, các nghiên cứu chưa tạo dựng được một qui trình giải quyết van dé hoàn chỉnh với các bước giải quyết van dé và các kỹ năng bộ phận trong quá trình giải quyết van dé đồng thời những nghiên cứu img dụng ky năng giải quyết van đề còn rat hạn che. Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong thực tập đợt một Năm 2012, PGS.TS Huỳnh Văn Sơn đã thực hiện một để tài báo cáo khoa học “Thực trang kỹ năng giải quyết van dé của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố tl Chí Minh trong thực tập Sư phạm đợt một theo hình thức gởi thang”. Qua nghiên cứu cho thay sinh viên trường đại học Sư phạm thanh phố Hồ Chi Minh trong thực tập đợt một theo hình thức gởi thẳng gặp khá nhiều vấn đẻ cần giải quyết và thực tế cho thấy kỹ năng giải quyết vấn đẻ trong thực tập sư phạm đợt một theo hình thức gởi thăng của sinh viên chỉ đạt ở mức trung bình.
Hai van dé mà sinh viên thường phải là van dé liên quan đến chuyên môn và giao tiếp ứng xử sư phạm với học sinh.