CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA MO HÌNH LOP HOC DAO NGƯỢC PHÁT TRIEN NANG LỰC GIẢI QUYẾT VAN DE VA SANG TAO CUA HỌC SINH 1. Cơ sở lí luận về năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Năng lực Năng lực không chỉ là kiến thức và kỳ năng. Nó liên quan đến khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tap, bằng cách huy động các kỹ năng va thái độ dé thực hiện thành công các nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thẻ (OECD, 2002).E Weinert, nắng lực là “tông hợp các kha năng và ki năng nhận thức sẵn có hoặc có thé học được ở cá nhân nhằm giải quyết những van dé nay sinh trong cuộc sống.
Năng lực cũng hàm chứa động cơ và ý chí dé cá nhân hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán đề đi đến giải pháp” (Weinert, 2001). Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nha nghiên cứu khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đôi mới căn bản và toàn diện, chuyên từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực. Khái niệm này cũng được định nghĩa khá tương đồng với các định nghĩa ma các nha nghiên cứu trên thé giới đưa ra. Theo Dinh Quang Báo: “Nang lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả yan dé đặt ra của cuộc song” (Bao, 2013).
Như vậy, nhìn chung định nghĩa năng lực của các nha nghiên ở Việt Nam va thể giới có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm nay. Tuu chung lại, thì năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chat, thái độ của một cá nhân hoặc tô chức đẻ thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả. Và trong dé tai này dé đảm bảo sự thông nhất trong việc nghiên cứu, chúng tôi sử dụng định nghĩa năng lực theo cách giải thích thuật ngữ trong Chương trình giáo dục phô thông tông thé 2018: “Nang lực la thuộc tinh ca nhân được hình thành, phát triển nhờ tổ chất sẵn có và qué trình hoc tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tong hợp các kiến thức, ki năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niêm tin, ý chỉ. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ the” (Bộ GD-ĐT, 2018a).
Cấu trúc năng lực Theo CT GDPT tông thé 2018 thì nang lực được chia thành hai dạng là năng lực chung, cốt lõi và năng lực năng lực đặc thù. Trong đó, năng lực chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng dé phat triên năng lực chuyên môn. Năng lực đặc thủ là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ (Tuyết, 2013). Theo Nguyễn Lan Phương, đù là năng lực chung hay năng lực đặc thủ thì về cau trúc mô hình năng lực cũng đều bao gồm các thành phan là: năng lực hợp phan, năng lực thành tố, chi số hành vi được biểu hiện thông qua quá trình học tập.
Trong đó năng lực hợp phan, năng lực thành té là các yếu tô tiềm ân không thê được đánh giá trực tiếp mà cần được đánh giá và đúc kết thông qua các chỉ số hành vi trong suốt quá trình học tập. Va các hành vi nảy sẽ được thé hiện thông qua các hoạt động: nêu được, phân tích được, lựa chọn được, viết được,. Đây cũng là cơ sở dé đo lường mức độ đạt được của năng lực (Uyên, 2023). -“~—~————=——=——=——=—=—=—=—=—=—=—=—=—=—=—=—=—=—===“A @ eww www ww ww www ww www www ewe wen eee” 1.
Nguyên tắc đánh giá năng lực - Đánh giá năng lực cần tuần theo các nguyên tắc sau (Bộ GD-ĐT, 2020): Y Nguyên tắc 1: Dam bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn, Giáo dục gắn liền với thực tiễn, HS có cơ hội học tập dựa trên giải quyết van dé trong bối cảnh thực tế. Việc đánh giá, kiểm tra cần xây dựng bối cảnh, tình huỗng thực tế dé HS được trải nghiệm va thé hiện kha năng của minh. 16 * Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính phù hợp với đặc thủ môn học. Đối với mỗi môn học sẽ có những YCCD riêng, đặc thù cho môn học.
Khi kiểm tra, đánh giá định hướng theo năng lực cần sử dụng các phương pháp: công cụ đánh giá phù hợp đặc điểm đặc thù của từng môn học. VY Nguyên tắc 3: Dam bao tính toàn điện va tính linh hoạt. Đánh giá năng lực cần xem xét đa chiều với các khía cạnh khác nhau, nhận định chính xác bản chất của hành vi. Năng lực có cấu trúc phức tạp phụ thuộc vào nhiều yêu tố tác động.
Vì thé, khi đánh giá năng lực cần phối hợp nhiều hình thức khác nhau, linh hoạt, khéo léo; đánh giá toàn diện, tránh chủ quan, phiến diện, một chiêu. *ˆ Nguyên tắc 4: Dam bảo tính phát triển Mục đích chính của kiểm tra, đánh giá là sự hình thành và phát triển NL cho HS. Dé từ đó tạo những điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập của mỗi HS, giúp HS trau đôi, nâng cao năng lực của bản thân. Quy trình đánh giá năng lực Trong quá trình học tập thì hoạt động kiêm tra-đánh giá là một yếu tô quan trọng dé cải thiện hoạt động day và học.
Kiểm tra, đánh gái được xem là quá trình theo đối sự tiến bộ của HS. Vi thé, cần xây dựng quy trình kiểm tra, đánh giá NL của HS, đảm bao việc kiểm tra, đánh giá điển ra chặt chẽ, chính xác. Quy trình kiểm tra - đánh giá năng lực của HS (Uyên, 2023) Giai đoạn 1: Chuan bị đánh giá nang lực Xác định mục tiêu đánh giá Xây dựng kê boạch kiêm tra, đánh giá Thiết kế công cụ kiểm tra, đánh giá Quy trình đánh giá được xây dựng gồm 3 giai đoạn và 7 bước tiền hành. Các bước trong quy trình diễn ra tuyến tính, theo tuần tự nhất định.
Việc kiểm tra, đánh giá được dién ra trong suốt quá trình học tập với mục tiêu đánh giá quá trình và đánh giá kết quả học tập (Uyên, 2023). Một số năng lực cốt lõi cần phát triển cho học sinh Như đã trình bày ở trên thì theo CT GDPT tông thé 2018 được xây dựng theo tiếp cận NL nhằm phát triển phẩm chat và NL người học. Chương trình quy định NL bao gồm NL chung va NL đặc thù môn học. - Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yêu qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ.
năng lực tin học, năng lực thâm mĩ, năng lực thẻ chất. Déi với học sinh mỗi lớp học, cấp học thì yêu cầu cần đạt về năng lực khoa học của từng môn học la khác nhau. năng lực khoa học được hình thành. phát triển ở nhiều môn học, hoạt động giáo dục, phù hợp với đặc điểm của mỗi môn học và hoạt động giáo duc, trong đó có môn Vật lí (Bộ GD-ĐT, 201§a).
18 - Những năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua tat cả các môn học vả hoạt động giáo dục bao gồm 3 năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (Bộ GD-ĐT, 2018a). Các năng lực của CT GDPT tổng thé 2018 (Luyén, 2021) Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho học sinh Miếu thứ sáu, sợ c, Mec 6À , oO} đựng. 25 chất, đáeb ga. hương tiệc, thái độ Pvt hi», gói phác, Nhật tết, pêvân tích, thực he định ga.
tội tạo, sông tạo NĂNG LỰC Thing Wit và ngoại sg? Thật SỐ, sử đương, (Đọc Nahe. Nội Vet) lao Táo, dae gá Hobs thức, hae tác bery, That số sở Gore, ob dụng cùngœ tao Sip, dich ga ie the, hán phe. vận done Chuong trinh tiép cận NL nêu rõ HS có thé làm được gi và lam với mức độ như thé nao khi kết thúc mỗi giai đoạn học tập trong nha trường. Cách tiếp cận này một mặt yêu cầu HS nắm vững kiến thức, kĩ năng cơ bản, nhưng điều quan trọng hơn là chương trình chú trọng đến khá năng vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải quyết các tinh huống trong học tập vả cuộc sống của HS, từ đó hình thành và phát triên các NL cơ bản mà mọi HS đều cần phải có cũng như phát triển NL riêng biệt của từng cá nhân (Hiền, 2022).
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tai này, chúng tôi chi đi sâu vào tìm hiểu năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh THPT. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Khái niém NL GQVD&ST Nhận thấy trong NL GQVD&ST bao gồm năng lực giải quyết van dé va năng lực sáng tạo nên trước khi đi sâu vào nghiên cứu NL GQVD&ST, thi chúng tôi làm rõ một số khái niệm sau: - Giải quyết van dé (GOVĐ) và năng lực giải quyết van đề (NL GOVB). 19 Theo tác giả Nguyễn Cánh Toàn (2011), GQVĐ là “hoạt động trí tuệ, được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức.
vì cần huy động tất cả năng lực trí tuệ của cá nhân. Dé GQVĐ, chủ thé cần huy động trí nhớ, tri giác, lí luận, khái niệm hóa, ngôn ngữ đồng thời sử dung ca cam xúc. động cơ niềm tin ở năng lực bản thân và khả nang kiểm soát được tình thế" (Toàn & Yến, 2011). Theo Nguyễn Lộc và Nguyễn Thị Lan Phương (2016), “năng lực giải quyết vấn đề" là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ.
động cơ, xúc cảm dé giải quyết những tình huống van đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường (Lộc & Phương, 2016). - Sáng tạo và năng lực sáng tạo. Theo Từ điền tiếng Việt, từ “sáng tao” có nghĩa là tạo ra những gia trị mới về vật chất hoặc tỉnh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có (Phê, 2003). Năng lực sáng tạo theo Trần Việt Dũng (2013) là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tô hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó (Dũng, 2013).