Luận văn thạc sĩ hay khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị hội chứng thận hư tại khoa nội 3 bệnh viện đa khoa tỉnh hải dương

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị hội chứng thận hư tại khoa nội 3 bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương, cung cấp thông tin hữu ích cho nghiên cứu.

Chuyên ngành

Dược lâm sàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2013

55
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN I: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về hội chứng thận hư

1.1.1. Dịch tễ học

1.1.2. Phân loại hội chứng thận hư

1.1.2.1. Phân loại theo nguyên nhân
1.1.2.2. Phân loại theo mô học
1.1.2.3. Phân loại theo lâm sàng
1.1.2.3.1. Hội chứng thận hư đơn thuần
1.1.2.3.2. Hội chứng thận hư không đơn thuần

1.1.3. Chẩn đoán xác định

1.1.4. Chẩn đoán phân biệt

1.1.5. Các xét nghiệm sinh hóa phục vụ chẩn đoán

1.1.6. Mục tiêu điều trị

1.1.7. Điều trị nguyên nhân

1.1.8. Điều trị biến chứng

1.1.9. Dinh dưỡng

Tóm tắt

I. Tổng quan về hội chứng thận hư và tình hình tại Hải Dương

Hội chứng thận hư (HCTH) là một bệnh lý cầu thận mạn tính, thường gặp ở trẻ em. Tình trạng này đặc trưng bởi sự xuất hiện của phù, protein niệu cao, protein máu giảm và lipid máu tăng. Theo thống kê, tỷ lệ mắc HCTH ở trẻ em dưới 16 tuổi là 25-50/1.000.000 trẻ/năm. Tại Việt Nam, số liệu về HCTH còn hạn chế, đặc biệt là tại các bệnh viện địa phương như Bệnh viện Đa khoa Hải Dương. Việc khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị HCTH tại đây là cần thiết để cải thiện chất lượng điều trị.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của hội chứng thận hư

HCTH có nhiều triệu chứng lâm sàng như phù, protein niệu cao và giảm albumin máu. Các triệu chứng này có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc nhận diện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để giảm thiểu biến chứng.

1.2. Tình hình sử dụng thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương

Khảo sát cho thấy việc sử dụng thuốc điều trị HCTH tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương chủ yếu tập trung vào nhóm corticoid và thuốc ức chế miễn dịch. Tuy nhiên, việc theo dõi và điều chỉnh liều lượng thuốc vẫn cần được cải thiện để đảm bảo hiệu quả điều trị.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị hội chứng thận hư

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị HCTH, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc quản lý bệnh. Tình trạng kháng corticoid ở một số bệnh nhân là một trong những vấn đề lớn nhất. Theo thống kê, tỷ lệ kháng corticoid có thể lên đến 20%. Điều này đòi hỏi các bác sĩ phải tìm kiếm các phương pháp điều trị thay thế hiệu quả hơn.

2.1. Tình trạng kháng thuốc trong điều trị HCTH

Kháng corticoid là một vấn đề nghiêm trọng trong điều trị HCTH. Nhiều bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp corticoid, dẫn đến việc phải sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch khác. Việc theo dõi tình trạng kháng thuốc là rất cần thiết.

2.2. Các biến chứng thường gặp trong điều trị

Các biến chứng như nhiễm trùng, suy thận và tắc mạch có thể xảy ra trong quá trình điều trị HCTH. Điều này yêu cầu các bác sĩ phải có kế hoạch điều trị toàn diện và theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

III. Phương pháp khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị HCTH

Khảo sát được thực hiện tại Khoa Nội 3 Bệnh viện Đa khoa Hải Dương với mục tiêu thu thập dữ liệu về tình hình sử dụng thuốc điều trị HCTH. Phương pháp khảo sát bao gồm phỏng vấn bệnh nhân và thu thập hồ sơ y tế. Dữ liệu sẽ được phân tích để đưa ra các khuyến nghị cải thiện.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu từ bệnh nhân đang điều trị HCTH tại bệnh viện. Các thông tin về thuốc sử dụng, liều lượng và hiệu quả điều trị sẽ được ghi nhận.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả khảo sát

Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm thống kê để xác định các xu hướng trong việc sử dụng thuốc điều trị HCTH. Kết quả sẽ giúp đánh giá hiệu quả điều trị và đưa ra các khuyến nghị cần thiết.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Hải Dương

Kết quả khảo sát cho thấy việc sử dụng thuốc điều trị HCTH tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương còn nhiều hạn chế. Cần có các biện pháp cải thiện để nâng cao hiệu quả điều trị. Việc áp dụng các phác đồ điều trị mới và theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân là rất quan trọng.

4.1. Đánh giá hiệu quả điều trị hiện tại

Hiệu quả điều trị HCTH tại bệnh viện được đánh giá dựa trên tỷ lệ hồi phục và tỷ lệ tái phát. Kết quả cho thấy cần cải thiện trong việc lựa chọn thuốc và theo dõi bệnh nhân.

4.2. Khuyến nghị cải thiện quy trình điều trị

Cần xây dựng các phác đồ điều trị rõ ràng và hướng dẫn sử dụng thuốc cho bác sĩ. Việc đào tạo liên tục cho nhân viên y tế cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về HCTH

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị HCTH tại Bệnh viện Đa khoa Hải Dương đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc phát triển các phác đồ điều trị hiệu quả hơn và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân HCTH.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong điều trị HCTH

Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện quy trình điều trị mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ trong việc quản lý bệnh nhân HCTH.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và điều trị

Cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn cho HCTH. Việc hợp tác giữa các cơ sở y tế và nghiên cứu sẽ giúp nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị hội chứng thận hư tại khoa nội 3 bệnh viện đa khoa tỉnh hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ HCTH là một bệnh cầu thận mạn tính thường gặp nhất ở trẻ em. Nguyên nhân của hội chứng thận hư cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ, vì thế thuật ngữ “Hội chứng thận hư” được dùng để chỉ một tập hợp triệu chứng lâm sàng và sinh hóa gồm: phù, protein niệu cao, protein máu giảm và lipid máu tăng, xuất hiện khi có tổn thương ở cầu thận do nhiều tình trạng bệnh lí khác nhau gây nên [2],[5],[21]. Theo số liệu thống kê của tổ chức nghiên cứu bệnh thận ở trẻ em (ISKDC): đối với trẻ em dưới 16 tuổi, tần suất mới mắc hội chứng thận hư là 25 – 50/1000000 trẻ/năm; tần suất mắc bệnh chung là khoảng 155/1000000 người. Tỷ lệ tử vong và biến chứng tùy thuộc rất nhiều vào týp tổn thương mô bệnh học, có thể dao động từ dưới 15% đến trên 50% sau thời điểm khởi phát 20 năm.

Theo thống kê của các nhà dịch tễ học Mỹ, đối với người trưởng thành, tần suất mới mắc hội chứng thận hư hằng năm là khoảng 3/1000000 người. Tần suất mắc bệnh chung ở người trưởng thành khó xác định được chính xác vì bệnh có thể do một số bệnh lý khác gây ra. Ở Việt Nam còn chưa có số liệu thống kê chính xác và đầy đủ về tình trạng bệnh lý này [4]. Các nghiên cứu cho thấy cơ chế bệnh sinh của hội chứng thận hư rất phức tạp.

Trước đây khi chưa có corticoid, một tỷ lệ lớn bệnh nhân bị HCTH đã bị chết hoặc tiến triển nhanh chóng đẫn đến giai đoạn cuối của bệnh thận. Từ giữa thế kỷ XX khi corticoid ra đời, tiên lượng của các bệnh nhân HCTH đã thay đổi rõ rệt. Theo Arneil trước năm 1955 tỷ lệ chết là 22%, sau năm 1955 tỷ lệ chết giảm xuống còn 9%. Tuy nhiên, cho đến nay đã có nhiều thông báo về sự kháng lại liệu pháp corticoid của bệnh nhân HCTH, tỷ lệ này dao động từ 10 - 20% [31], [38].

Những thống kê quy mô lớn dựa trên các thử nghiệm lâm sàng trên thế giới cho thấy, tỷ lệ tái phát trong vòng một năm sau khi được điều trị với phác đồ corticoid là 36% với liệu trình dài ngày, 61% với liệu trình chuẩn của ISKDC và 81% với liệu trình ngắn [39], [42]. Còn riêng với phác đồ sử dụng thuốc nhóm Alkyl là phác đồ mới và có hiệu quả hiện nay, tỷ lệ tái phát cũng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không dưới 40% [44]. Đối với trẻ em HCTH khởi phát trên 90% là tiên phát, sau điều trị đợt đầu số trẻ có thể khỏi hoàn toàn chỉ ở mức dưới 10% [22], [34], [42]. Gần 10% trẻ em có thể kháng corticoid ngay từ đợt điều trị đầu tiên, một số có thể trở nên kháng corticoid về sau [6], [16], [22], [45].

Tuy vậy, corticoid vẫn là thuốc được lựa chọn hàng đầu trong hàng loạt các phác đồ điều trị HCTH. Hiện nay trên địa bàn thành phố Hải Dương chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề trên, để góp phần tìm hiểu về tình hình sử dụng thuốc điều trị HCTH tại bệnh viện đa khoa Hải Dương chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị hội chứng thận hư tại khoa Nội 3 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương” với mục tiêu: - Khảo sát đặc điểm của bệnh nhân điều trị hội chứng thận hư tại khoa Nội 3 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương. - Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị hội chứng thận hư tại khoa Nội 3 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương. Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả trong điều trị Hội chứng thận hư cho khoa Nội 3 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.

2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về hội chứng thận hư Hội chứng thận hư (HCTH) là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa do tổn thương ở cầu thận, được đặc trưng bởi: phù, protein niệu cao, protein máu giảm [12]. Dịch tễ học Tỷ lệ mắc bệnh hội chứng thận hư thay đổi theo địa dư, tuổi, giới, dân tộc và cả yếu tố di truyền. • Tỷ lệ mắc bệnh Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh là 15,7/100.

Theo thống kê của Mỹ với trẻ dưới 16 tuổi, tỷ lệ mắc mới hàng năm là 2 - 7/100.000 bệnh nhân, tỷ lệ mắc là 16/100. Ở nước ta, tại các viện trẻ em và bệnh viện đa khoa khu vực, số trẻ em bị HCTH tiên phát chiếm khoảng 0,5 - 1% tổng số bệnh nhân nội trú của khoa nhi và chiếm khoảng 10 - 30% tổng số trẻ bị bệnh thận. Tại Bệnh viện Nhi đồng 1, trung bình hàng năm nhận khoảng trên 300 trẻ HCTH tiên phát, chiếm 38% tổng số bệnh thận và 0,67% tổng số trẻ nhập viện [19], [21], [22]. Hội chứng thận hư thứ phát gặp chủ yếu ở người lớn tuổi.

Theo thống kê của Trần Văn Chất và Trần Thị Thịnh từ năm 1991 – 1995 tại khoa thận tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai có 31,5% số bệnh nhân nằm tại trong khoa [20]. • Về giới Theo số liệu của các nhà nghiên cứu nước ngoài tỷ lệ mắc HCTH tiên phát ở trẻ trai/gái dưới 8 tuổi dao động từ 2/1 đến 3/2, đối với trẻ lớn thì tỷ lệ này tương đương [36]. Theo số liệu trong nước, tỷ lệ mắc HCTH tiên phát gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái: tỷ lệ trai/gái vào khoảng 2 - 3/1. Tỷ lệ mắc HCTH thứ phát không liên quan về giới [20], [22].

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com • Tuổi mắc bệnh Tuổi mắc bệnh của Việt Nam có sự khác biệt với tuổi mắc bệnh mà các tác giả nước ngoài nghiên cứu. Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê thì tuổi mắc bệnh trung bình của HCTH tiên phát là 7,36 + 2 nghĩa là thường gặp ở lứa tuổi học đường (5 - 10 tuổi, 64,43% trên 5 tuổi). Tuổi mắc bệnh trung bình của HCTH thứ phát từ 36 – 54 tuổi chiếm 98,32%, như vậy bệnh gặp nhiều ở lứa tuổi lao động [20], [22]. • Về địa dư: Ở Việt Nam, Viện BVSKTE, tỷ lệ hội chứng thận hư tiên phát ở trẻ em là 1,78% (1974 - 1988); Bệnh viện nhi đồng I là 0,67% (1990 – 1993); Khoa nhi – Bệnh viện trung ương Huế là 0,73% (1987 - 1996).

Tỷ lệ HCTH thứ phát không liên quan về địa dư [20]. • Về yếu tố mang tính di truyền Hội chứng thận hư tiên phát ở trẻ em Châu Á nhiều gấp 6 lần gốc Châu Âu, trẻ em gốc Châu Phi ít bị hơn nhưng bệnh thường nặng (tỷ lệ kháng steroid cao hơn). Ngoài ra, ở một số nhóm HLA nhất định cũng hay bị bệnh thận hư. Chẳng hạn HLA-DR7 ở người Pháp, Tây Ban Nha, Úc nhóm HLA- B12 ở Anh và thường kết hợp với cơ địa dị ứng [22].

Hội chứng thận hư thường kết hợp với cơ địa dị ứng và hay xuất hiện sau một số kích thích miễn dịch không đặc hiệu như các nhiễm khuẩn hô hấp cấp, dị ứng thuốc, ong đốt, tiêm chủng… Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có đủ chứng cứ về yếu tố di truyền trong bệnh này. Phân loại hội chứng thận hư Hội chứng thận hư là một hội chứng do nhiều nguyên nhân khác nhau, với các tổn thương bệnh lí ở cầu thận khác nhau, có diễn biến và tiên lượng khác nhau. Vì vậy, khi nói đến hội chứng thận hư cần phải phân loại bệnh nhằm áp dụng các phác đồ điều trị hợp lý [22]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Phân loại theo nguyên nhân • Hội chứng thận hư bẩm sinh: Xuất hiện ngay sau khi trẻ được sinh ra hoặc trong 3 tháng đầu. Tỷ lệ gặp ở trường hợp này là 3,4%. • Hội chứng thận hư nguyên phát hay hội chứng thận hư tự phát: - Hội chứng thận hư đơn thuần: bệnh cầu thận tổn thương tối thiểu, chiếm tỉ lệ 20% số bệnh nhân có hội chứng thận hư. - Hội chứng thận hư do viêm cầu thận mạn bao gồm: + Xơ hoá cầu thận ổ - đoạn: chiếm tỉ lệ 15 - 20% số bệnh nhân có hội chứng thận hư.

+ Bệnh cầu thận màng: chiếm tỉ lệ 25 - 30% số bệnh nhân có hội chứng thận hư. + Viêm cầu thận màng tăng sinh: chiếm tỉ lệ 5 - 10% số bệnh nhân có hội chứng thận hư. + Các bệnh viêm cầu thận tăng sinh và xơ hoá khác: chiếm tỉ lệ 15 - 30% số bệnh nhân có hội chứng thận hư. • Hội chứng thận hư thứ phát hay hội chứng thận hư kết hợp: - Bệnh hệ thống: Đái tháo đường, lupus ban đỏ hệ thống và các bệnh collagen khác, bệnh thận nhiễm bột, bệnh viêm mạch máu do miễn dịch (cryoglobulin máu hỗn hợp, u hạt Wegener, viêm nhiều động mạch, viêm thành mạch dị ứng.Couser khoảng 1/3 bệnh nhân người lớn và 10% bệnh nhân trẻ em có HCTH là triệu chứng của một bệnh toàn thể, thường là đái tháo đường, Lupus ban đỏ rải rác hoặc Amylose thận, số còn lại là HCTH nguyên phát [10].

- Bệnh nhiễm khuẩn: + Nhiễm vi khuẩn (nhiễm liên cầu khuẩn, giang mai, viêm màng trong tim nhiễm khuẩn bán cấp và cấp tính). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Nhiễm virus (virus viêm gan B, virus viêm gan C, HIV, Cytomegalovirut). + Nhiễm ký sinh trùng (sốt rét, toxoplasma, sán máng. - Do thuốc: muối vàng, thuỷ ngân và các kim loại nặng, penicillamin, các thuốc kháng viêm không steroid, lithium, captopril, heroin, các thuốc khác (probenecid, chlopropamid, rifampicin, tolbutamid, phenindion.

- Dị ứng, nọc rắn, nọc ong và miễn dịch. - Ung thư: bệnh Hodgkin, bệnh bạch cầu lympho (thường gây ra bệnh cầu thận tổn thương tối thiểu), các khối u đặc (thường gây ra bệnh cầu thận màng). - Bệnh di truyền và chuyển hoá: + Hội chứng Alport. + Bệnh hồng cầu hình liềm.

+ Hội chứng thận hư bẩm sinh, hội chứng thận hư có tính chất gia đình. + Hội chứng móng tay - xương bánh chè. - Các nguyên nhân khác như liên quan với chửa đẻ, thải ghép cơ quan, bệnh huyết thanh, hẹp động mạch thận một bên Tỷ lệ gặp ở HCTH thứ phát là 6,4% [19], [35], [43]. Tại Việt Nam, trong số 1582 trẻ bị thận hư được điều trị tại Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, chỉ có 1 trường hợp thận hư bẩm sinh, còn chủ yếu là hội chứng thận hư tiên phát (chiếm 96%) và thứ phát (chiếm 4%) [19].

Phân loại theo mô học - Hội chứng thận hư với tổn thương cầu thận tối thiểu (Minimal changes nephrotic syndrome - MCNS). - Hội chứng thận hư với thoái hóa hyaline hoặc xơ cứng cầu thận từng phần cục bộ (Focal/segmentar hyalinosis or glomeulosclerosis). - Hội chứng thận hư với tăng sinh gian mạch (Mesanginal proliferative nephrotic syndrome).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khảo sát sử dụng thuốc điều trị hội chứng thận hư tại bệnh viện đa khoa Hải Dương" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sử dụng thuốc trong điều trị hội chứng thận hư, một bệnh lý nghiêm trọng ảnh hưởng đến chức năng thận. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các loại thuốc được sử dụng mà còn đánh giá hiệu quả và tính an toàn của chúng trong điều trị. Điều này mang lại lợi ích cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong việc cải thiện quy trình điều trị, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến điều trị bệnh lý, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Khảo sát việc sử dụng thuốc trong điều trị bệnh viêm gan siêu vi b ở bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh, nơi nghiên cứu về việc sử dụng thuốc trong một bệnh lý khác. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về việc quản lý thuốc trong điều trị rối loạn lipid. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang năm 2019, để có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp điều trị hiện có. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và nâng cao khả năng áp dụng trong thực tiễn.