CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC VỀ VIRUS VIÊM GAN B 1. Cấu tạo của virus HBV [7], [25] HBV là loại virus thuộc họ Hepadnaviridae, có cấu trúc gồm 2 phần chính: • Phần vỏ có các kháng nguyên bề mặt HBsAg, tạo kháng thể miễn dịch là anti- HBs, gồm 3 loại protein: S (small – nhỏ), M (medium – trung bình), L (large – lớn). • Phần lõi gồm: Màng bọc protein gọi là capsid.
Sợi đôi AND không hoàn chỉnh, cấu trúc gồm 4 vùng gen quan trọng gồm: Gen pre-S1, pre-S2 và S tổng hợp protein của kháng nguyen bề mặt (HBsAg). Gen pre-C và C tổng hợp protein của kháng nguyên lõi (HBcAg và HBeAg). Gen X tổng hợp protein có tác dụng chuyển hoạt hóa Gen P tổng hợp DNA-polymerase của virus Hình 1. Bộ gen HBV [7] HBV là một virus nhỏ có màng bao, đường kính 42 nm.
Có bộ gen bao gồm chuỗi kép DNA, đây là chuỗi xoắn kép không hoàn toàn, chiều dài khoảng 3,2 kb gồm:. • Chuỗi dài nằm ngoài, tạo nên một vòng liên tục, dài 3,2 kb, mã hóa cho tất cả thông tin di truyền của virus. • Chuỗi ngắn nằm trong với chiều dài thay đổi theo chiều dài của bộ gen. Bốn gen -pre-S1/S2, precore (PC)/core (C), Pol (P) và X mã hóa bảy polypeptide.
Chu trình sống của HBV [18], [23] HBV là một virus DNA có bước tái mã hóa, tương tự như retrovirus. Sự nhân lên của HBV chỉ xảy ra ở tế bào gan, nhưng các yếu tố quyết định giúp đưa HBV vào tế bào gan vẫn chưa được biết đến. Sau khi tương tác với thụ thể tế bào, virus HBV xâm nhập vào tế bào gan và giải phóng lớp vỏ ngoài. Sau khi vào bên trong tế bào chất, phần lõi virus phóng thích bộ gen vào nhân tế bào.
Tại nhân, DNA sợi đôi của virus được sửa chữa lại thành DNA đóng vòng hóa trị gọi là cccDNA. cccDNA hoạt động như một khuôn mẫu để tổng hợp năm mRNA virus khác nhau: preCore mRNA, pre-S2 mRNA, X mRNA, S1 mRNA và RNA pregenomic (pgRNA). Các mRNA được giãi mã ở tế bào chất thành các protein virus, pgRNA sẽ được đóng gói cùng với DNA-polymerase của virus và protein lõi để hình thành nên phần lõi virus. Kháng nguyên HBeAg và HBsAg cũng được tổng hợp, di chuyển đến vùng lưới nội chất và được phóng thích ra huyết thanh.
Trong quá trình này, HBsAg một phần tham gia cấu trúc, một phần tồn tại dạng hình cầu hoặc hình ống không mang DNA gọi là hạt virus rỗng. RNA tiền gen (pregenome) là khuôn mẫu tổng hợp DNA của virus nhờ vào men polymerase có chức năng phiên mã ngược. Đầu tiên sẽ tổng hợp sợi âm sau đó tổng hợp sợi dương DNA. Phần lõi virus mới được tổng hợp có 2 con đường: Hoặc là phóng thích trở lại DNA vào trong nhân để tạo thành cccDNA mới, làm cho các tế bào nhiễm virus tồn tại một thời.
gian rất dài gây tăng lượng RNA virus hoặc sẽ được bao bọc bởi lớp vỏ virus có trong lưới nội bào, sau đó sẽ phóng thích virus trưởng thành gây nhiễm tế bào khác. Kiểu sinh sản của HBV không làm tê bào bị chết nhưng lại gây ra sự nhiễm mạn tính của tế bào gan. Như vậy, ta có thể thấy DNA-HBV cho biết số lượng hạt virus, HBsAg cho biết số lượng hạt cùng với số lượng hạt virus rỗng. Lượng HBsAg huyết thanh hiếm khi thay đổi nhanh chóng, ngay cả trong giai đoạn chuyển đổi huyết thanh HBeAg.
Nói chung, lượng HBsAg ở bệnh nhân viêm gan B có HBeAg (-) thường thấp hơn so với bệnh nhân có HBeAg (+). Giảm HBsAg chứng tỏ sự cải thiện trong kiểm soát miễn dịch.3 Diễn biến tự nhiên của tình trạng nhiễm HBV mạn tính [8] Viêm gan siêu vi B mạn là một quá trình động, chia ra làm 5 giai đoạn: Giai đoạn 1: Nhiễm HBV mạn tính với HBeAg dương tính, trước đây được gọi là giai đoạn “dung nạp miễn dịch” ; đặc trưng bởi sự hiện diện của HBeAg huyết thanh, nồng độ DNA-HBV cao và ALT bình thường. Ở gan, có ít hoặc không bị hoại tử, xơ hóa. Tỷ lệ mất HBeAg tự phát rất thấp trong giai đoạn này.
Những bệnh nhân này rất dễ lây lan do nồng độ DNA-HBV cao. Giai đoạn 2: Nhễm HBV mạn tính với HBeAg dương tính được đặc trưng bởi sự hiện diện của HBeAg huyết thanh, nồng độ DNA-HBV cao và ALT tăng, còn gọi là giai đoạn “đáp ứng miễn dịch”. Trong gan, có tình trạng hoại tử gan vừa hoặc nặng và tăng tốc tiến triển của xơ hóa. Có thể xảy ra sau dung nạp miễn dịch vài năm và thường gặp ở những cá thể bị nhiễm trong lúc trưởng thành.
Hầu hết bệnh nhân có thể đạt được chuyển đổi huyết thanh HBeAg và ức chế DNA-HBV, bước vào giai đoạn nhiễm HBeAg âm tính. Giai đoạn 3: Nhiễm HBV mạn tính với HBeAg âm tính, trước đây được gọi là giai đoạn “chất mang không hoạt động”, được đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng thể kháng HBeAg trong huyết thanh (anti-HBe), nồng độ DNA-HBV không thể phát hiện hoặc thấp (< 2.000 IU/mL) và ALT bình thường. Tuy nhiên, một số bệnh nhân trong giai. đoạn này có thể có nồng độ DNA-HBV trong khoảng 2.000 IU/mL kèm theo ALT bình thường kéo dài.
Những bệnh nhân này có nguy cơ tiến triển thành xơ gan hoặc HCC thấp nếu họ vẫn ở giai đoạn này. Mất HBsAg và chuyển đổi huyết thanh có thể xảy ra tự nhiên ở 1-3% trường hợp mỗi năm. Giai đoạn 4: Viêm gan B mạn tính với HBeAg âm tính được đặc trưng bởi việc thiếu HBeAg huyết thanh và có khả năng anti-HBe có thể được phát hiện, và nồng độ DNA- HBV huyết thanh từ trung bình đến cao (thường thấp hơn ở bệnh nhân dương tính với HBeAg), giá trị ALT dao động hoặc liên tục tăng. Mô học gan cho thấy tình trạng viêm hoại tử và xơ hóa.
Hầu hết các đối tượng này đều có các biến thể HBV ở vùng trước và/hoặc các vùng tổ chức lõi cơ bản làm suy yếu hoặc mất biểu hiện HBeAg. Giai đoạn này có liên quan đến tỷ lệ thấp thuyên giảm bệnh tự phát. Giai đoạn 5: Pha âm tính với HBsAg được đặc trưng bởi HBsAg âm tính trong huyết thanh và kháng thể kháng HBcAg dương tính (anti-HBc), có hoặc không anti-HBs. Giai đoạn này còn được gọi là nhiễm HBV ẩn.
Bệnh nhân trong giai đoạn này có giá trị ALT bình thường. DNA-HBV (cccDNA) có thể được phát hiện ở gan. Mất HBsAg trước khi khởi phát xơ gan cho thấy giảm nguy cơ xơ gan, mất bù và HCC, cải thiện khả năng sống sót. Tuy nhiên, nếu xơ gan đã phát triển trước khi mất HBsAg, bệnh nhân vẫn có nguy cơ bị HCC do đó cần tiếp tục theo dõi HCC.
Ức chế miễn dịch có thể dẫn đến tái kích hoạt HBV ở những bệnh nhân này.4 Đáp ứng miễn dịch của tế bào nhiễm virus [4], [5], [14] Nguyên nhân chính dẫn đến tổn thương gan trong cơ chế bệnh sinh của viêm gan siêu vi B mạn tính là do sự tương tác trực tiếp của hệ thống miễn dịch ký chủ đối với các tế bào nhiễm virus. Với sự tham gia của tế bào T tiêu diệt các tế bào bị nhiễm bệnh và tiết ra các cytokine kháng virus như: IFN-α, IFN-γ, IFN-λ và TNF-α (yếu tố hoại tử mô) để đào thải virus ra khỏi cơ thể. Trong quá trình sao chép virus hoặc tích hợp DNA virus vào tế bào gan, protein virus được tổng hợp vượt mức. Những protein được trình diện bởi các tế bào gan, hoặc được.
giải phóng khi các tế bào gan trải qua quá trình gây độc tế bào, có thể có tác động đến cả tế bào gan và hệ thống miễn dịch. Kháng nguyên bề mặt viêm gan siêu vi B (HBsAg) được tổng hợp quá mức bởi các tế bào gan bị nhiễm bệnh lưu thông trong máu và được nhận diện bởi các tế bào đuôi gai, tạo ra các chất trợ giúp tế bào T. Anti-HBsAg giúp loại bỏ virus, trong khi chính HBsAg kích thích quá trình gây độc tế bào qua trung gian TRAIL của các tế bào gan bị ảnh hưởng. Kháng nguyên lõi của virus viêm gan B (HBcAg) được tế bào gan trình bày cho các tế bào T gây độc tế bào (tế bào T CD4 + duy trì chức năng chống virus của tế bào T CD8 +) gây ra sự phân giải tế bào của tế bào gan bị nhiễm bệnh.
Sự kích thích tế bào T cũng có thể xảy ra một cách gián tiếp, với sự tham gia của các cytokine (interleukin (IL) -2, Interferon (IFN) -γ, yếu tố hoại tử khối u (TNF) –α) gây ra bởi kháng nguyên viêm gan B (HBeAg).5 Các xét nghiệm trong chẩn đoán và theo dõi điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính [1], [6], [8], [22] • HBsAg (Còn gọi là kháng nguyên bề mặt) Xét nghiệm HBsAg là cách duy nhất để chẩn đoán viêm gan B mạn. Nếu HBsAg (+) trên 6 tháng nghĩa là bệnh nhân đã mắc viêm gan B mạn. Do phần lớn bệnh nhân viêm gan B tại Việt Nam mắc virus từ lúc sinh hoặc khi còn nhỏ, xét nghiệm HBsAg (+) thường có nghĩa là đã mắc viêm gan B mạn. Người có HBsAg (+) cần được tư vấn và khám định kỳ để giảm nguy cơ tiến triển thành bệnh gan mạn và ung thư gan.
• Anti-HBs Xét nghiệm anti-HBs là để kiểm tra xem đã có miễn dịch bảo vệ hay chưa. Anti-HBs tạo ra sau tiêm phòng hoặc do trước đây đã mắc virus viêm gan B và tự hồi phục. Ý nghĩa kết quả xét nghiệm HBsAg và Anti-HBs Dấu ấn huyết thanh Ý nghĩa kết quả xét nghiệm HBsAg Anti-HBs + - Hiện đang mắc. Nếu HBsAg vẫn dương tính sau 6 tháng hoặc IgM anti-HBc âm tính, khẳng định viêm gan B mạn.
- + Đã miễn nhiễm (có miễn dịch bảo vệ) sau hồi phục do nhiễm virus tự nhiên hoặc sau viêm phòng. - - Không nhiễm virus, chưa có miễn dịch bảo vệ. Cần tiêm phòng. + + Mắc viêm gan B mạn tính nếu có HBsAg + trên 6 tháng.
Kết quả anti-HBs dương tính không thể hiện miễn dịch chống lại virus viêm gan B. • HBeAg HBeAg là một đoạn kháng nguyên vỏ capsid của virus viêm gan B. Sự xuất hiện HBeAg chứng tỏ virus đang nhân lên và có khả năng lây lan mạnh. HBeAg dương tính là một chỉ tiêu chứng tỏ virus đang hoạt động.
HBeAg âm tính có 2 khả năng: virus không hoạt động hoặc virus đột biến. Để khẳng định virus đột biến cần xét nghiệm DNA-HBV và HBV genotyping. • Anti-HBe Anti-HBe là kháng thể kháng HBeAg. Nếu xét nghiệm Anti-HBe dương tính chứng tỏ bệnh nhân có miễn dịch một phần.
Xét nghiệm Anti-HBe âm tính chứng tỏ cơ thể chưa có miễn dịch với virus viêm gan B.