ĐẶT VẤN ĐỀ Từ viết tắt Diễn giải tiếng anh Diễn giải tiếng việt American Diabetes Hiệp hội đái tháo đường ADA Association Hoa Kỳ Human Leucocyte HLA Kháng nguyên bạch cầu Antigen World Healthy WHO Tổ chức Y tế Thế giới Organization ĐTĐ Đái tháo đường THA Tăng huyết áp BMI Body Mass Index Chỉ số khối cơ thể Hb Hemoglobin Huyết sắc tố BN Bệnh nhân Glucose huyết tương lúc FPG Fasting plasma glucose đói Oral glucose toleranghiên Glucose huyết tương ở OGTT cứue test thời điểm sau 2 giờ National Chương trình tiêu chuẩn NGSP Glycohemoglobin hóa quốc gia Standardization Program Glycohemoglobin High Performanghiên Hệ thống sắc k‡ lỏng hiệu HPLC cứue Liquid năng cao Chromatography QC Quality Control Kiểm tra chất lượng Theo WHO năm 1985 có 30 triệu người mắc đái tháo đường (ĐTĐ) trên toàn cầu, năm 2004 có 98.9 triệu người mắc. Cho tới nay có 180 triệu người và con số đó có thể tăng gấp đôi lên tới 366 triệu người vào năm 2030 [1]. Đây là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phát triển. Việt Nam là nước có tốc độ phát triển bệnh nhanh.
Một nghiên cứu của Bệnh Viện Nội Tiết Trung Ương, cuối tháng 10-2008, cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2.7% năm 2001 đến 5% năm 2008, trong đó có 65% người bệnh không biết mình bị bệnh [2] Trung bình mỗi ngày Khoa Nội Bệnh viện Quân y 7B - Đồng Nai tiếp nhận, điều trị cho 250 bệnh nhân ngoại trú và 40 bệnh nhân nội trú. Khoảng 80-90% bệnh nhân trong số đó mắc bệnh đái tháo đường (tiểu đường). Đái tháo đường có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ biến chứng mạch máu nhỏ, gồm bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh dây thần kinh. Làm tăng nguy cơ mạch máu lớn, gồm bệnh mạch vành, mạch máu não, mạch máu ngoại biên.
Bệnh nhân ĐTĐ có tăng nguy cơ biến cố tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người không bị ĐTĐ [3], ngoài ra suy giảm thị lực, thậm chí có thể dẫn đến m… lòa, xơ vữa động mạch ngoại vi gây tắc mạch, cao huyết áp, làm suy yếu hệ miễn dịch, dễ nhiễm tr…ng trên nhiều v…ng cơ thể, hạ đường huyết, hôn mê. Lượng đường huyết trong cơ thể con người thay đổi rất nhiều t…y vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là chế độ ăn uống, sinh hoạt. Tuy rất khó khăn trong quá điều trị nhưng chúng ta có thể giảm ảnh hưởng của bệnh và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm. Với câu hỏi bệnh tiểu đường có chữa được không thì câu trả lời hiện tại là chưa thể chữa khỏi dứt điểm bệnh.
Trên thế giới, tính đến thời điểm này chưa có loại thuốc đặc trị nào chữa khỏi bệnh tiểu đường hoàn toàn. Tuy nhiên người bệnh nên kiên trì điều trị để ổn định lượng đường cũng như bảo vệ chức năng tuyến tụy một cách dài lâu. Tuy không điều trị dứt điểm được bệnh nhưng chúng ta vẫn có thể kiểm soát bệnh tiểu đường và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm của nó bằng cách duy trì đường huyết ổn định. HbA1c là một dạng Hemoglobin đường hóa, được d…ng để đánh giá nồng độ glucose máu trung bình trong 2 đến 3 tháng trước đó, được sử dụng, để theo dõi quá trình quản l‡ bệnh nhân ĐTĐ.
Hiện nay ADA đã công nhận giá trị của HbA1c trong việc chẩn đoán bệnh ĐTĐ với ngưỡng là 6,5%. Để kiểm soát chặt chẽ đường huyết ở những bệnh nhân ĐTĐ, các hướng dẫn thực hành lâm sàng trên thế giới đều khuyến cáo sử dụng xét nghiệm HbA1c [12].5%, bệnh nhân có thể làm chậm và ngăn ngừa sự phát triển các biến chứng về mắt, thận và thần kinh do bệnh ĐTĐ gây nên [22]. Kiểm soát tốt đường huyết bằng xét nghiệm HbA1c là cách tốt nhất để giảm những nguy cơ biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường. Mức 6,5% là chỉ số HbA1c chung để kiểm soát đường huyết tốt của thế giới và là mục tiêu hướng tới của Việt Nam trong những năm tới đây [23] Đã có nhiều nghiên cứu khảo sát nồng đồ HbA1c trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 ở nhiều nơi ở trên Việt Nam.
Tuy nhiên tại khu vực Biên Hòa chưa có nghiên cứu nào về khảo sát nồng độ HbA1c để đánh giá khả năng kiểm soát ĐTĐ của bệnh nhân ĐTĐ type 2. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Khảo sát nồng độ HbA1c trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh Viện Quân Y 7B từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2023” CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tình hình kiểm soát đường huyết của bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thông qua xét nghiệm HbA1c tại Bệnh Viện Quân Y 7B từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2023 như thế nào? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát đường huyết tốt qua xét nghiệm nồng độ HbA1c. Xác định mối liên quan đến sự kiểm soát đường huyết của bệnh nhân thông qua xét nghiệm HbA1c với đặc điểm dân số.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU I. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh đái tháo đường Trong các loại bệnh chuyển hóa, bệnh đái tháo đường là bệnh thường gặp nhất và có lịch sử nghiên cứu lâu năm nhưng thành tựu chỉ có trong thời gian gần đây. Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên Aretaeus đã bắt đầu vào việc mô tả bệnh đái tháo đường [7]. Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo, gồm 2 loại tế bào tiết ra insulin và glucagon không nối với đường dẫn tụy.
Năm 1889, Minkowski và Von Mering gây đái tháo đường ở chó bị cắt bỏ đi tụy, đặt cơ sở cho học thuyết của đái tháo đường do tụy [25]. Năm 1921, Banting và Best c…ng với các công sự đã thành công trong việc phân lập insulin từ tụy [7]. Vào các năm 1936, 1976, 1977 các tác giả Himsworth, Gudworth và Jeytt phân loại đái tháo đường thành type 1 và type 2 [25]. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát bệnh và biến chứng đi tháo đường (được công bố 1993) và nghiên cứu tiền cứu về đái tháo đường của Vương Quốc Anh (công bố năm 1998) đã mở ra kỷ nguyên mới cho điều trị bệnh đái tháo đường đó là kỷ nguyên kết hợp y tế chuyên sâu và y học dự phòng [7].
Đáng lưu ‡ là trong nghiên cứu này là có tới 50% bệnh nhân khi phát hiện thì đã có biến chứng [2]. Điều này nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và điều trị bệnh đái tháo đường. Định nghĩa về bệnh đái tháo đường Theo WHO, năm 2002, ĐTĐ là bệnh mạn tính do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu. Tăng glucose máu gây tổn thương nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt mạch máu và thần kinh [6].
Theo hội ĐTĐ Hoa Kỳ, năm 2004, ĐTĐ là nhóm bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽ gây tốn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [21]. Đặc điểm bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường t‡p 2 được đặc trưng bởi kháng insulin và giảm chế tiết insulin dẫn đến mất khả năng duy trì mức glucose máu bình thường. Những bất thường này là kết quả ảnh hưởng của yếu tố di truyền và môi trường sống, kể cả suy dinh dưỡng trong tử cung.
Tuy nhiên, những gen đặc hiệu gây ra những bất thường này vẫn chưa được xác định [5], [20]. Mặc d… đã có rất nhiều tiến bộ trong phương pháp điều trị, nhưng người bệnh đái tháo đường vẫn có nhiều biến chứng nguy hiểm làm tăng tỷ lệ tử vong và tàn phế. Đáng chú ‡ là trên 60% số người mắc bệnh đái tháo đường trong cộng đồng không được phát hiện, khi được phát hiện thì đã có nhiều biến chứng nguy hiểm như: biến chứng tim mạch, thần kinh, suy thận, m… lòa, biến chứng bàn chân đái tháo đường. Bệnh tiến triển âm thầm, tỷ lệ tử vong cao, khoảng 6 người bệnh tử vong/phút trên toàn cầu, môi 30 giây lại có 1 người mắc bệnh đái tháo đường bị cắt cụt chi do biến chứng bàn chân đái tháo đường, môi ngày có 5.000 người bị m… lòa do biến chứng mắt đái tháo đường, môi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì các bệnh liên quan tới đái tháo đường[4].
Bệnh đái tháo đường được xem như "kẻ giết người thầm lặng" của toàn nhân loại thời hiện đại. Bệnh diễn biến âm thầm, giai đoạn đầu chưa có biểu hiện lâm sàng, khó có thể chẩn đoán vì nhiều người vẫn cảm thấy khỏe mạnh, không quan tâm đến việc kiểm tra sức khỏe. Một số người còn quan niệm nếu mắc bệnh thì sẽ thấy ruồi, kiến, côn tr…ng bâu vào nước tiểu nên không kiểm tra đường máu khi thấy mình khỏe mạnh. Đúng ra giai đoạn này cần phải được đánh giá các yếu tố nguy cơ và xét nghiệm đường máu để theo dõi.
Nếu bệnh nhân được phát hiện và can thiệp kịp thời ở giai đoạn này sẽ giảm được 47% tỷ lệ tử vong, giảm 36% tỷ lệ nhồi máu cơ tim, giảm 28% tỷ lệ mắc chung biến chứng thận-mắt, hạn chế bệnh thận không tiến triển nặng thêm 28%, hạn chế sự phát triển nặng của bệnh l‡ võng mạc 50% [4]. Nếu không được phát hiện ở giai đoạn đầu người bệnh thường xuyên bị phơi nhiễm bởi các yếu tố liên quan và nhanh chóng chuyển sang giai đoạn tăng đường máu mạn tính, bệnh tiếp tục tiến triển và sau đó sẽ xảy ra các biến chứng nguy hiểm. Khi đã mắc bệnh đái tháo đường, điều trị bệnh ở giai đoạn này chủ yếu là phòng các biến chứng, với mục đích làm giảm mức độ nặng và tiến triển của các biến chứng, bệnh không còn khả năng hồi phục hoàn toàn. Mặt khác khi đã mắc bệnh đái tháo đường người bệnh cần điều trị tích cực và theo dõi chặt chẽ mới có thể đưa mức đường máu về gần bình thường và cũng chỉ giảm thiểu biến chứng và điều chỉnh các rối loạn khác của cơ thể, điều này rất tốn kém cho gia đình và xã hội.
Trong khi đó nếu phát hiện được các yếu tố nguy cơ hoặc phát hiện mức đường máu ở ngưỡng tiền đái tháo đường, chỉ cần sử dụng phương pháp điều trị bằng chế độ ăn uống và luyện tập [4],[8],[2] giảm thiểu được chi phí điều trị rất nhiều, đồng thời cũng giảm được tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.