chương I Luật du lịch 2005: “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ, gắn với tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không.” Các điểm du lịch, khu du lịch được tích hợp để tạo thành tuyến du lịch. Trong trường hợp cụ thể, tuyến du lịch có thể là tuyến nội tỉnh (trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); Tuyến nội vùng (trong phạm vi lãnh thổ của một vùng); Tuyến liên vùng (giữa các vùng du lịch); Tuyến quốc tế (giữa các nước, các vùng). Theo loại hình vận chuyển, có thể chia thành đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Tuyến du lịch là một chuỗi các điểm du lịch, các cơ sở cung ứng dịch vụ liên kết với nhau.
Tuyến du lịch nối các các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không phục vụ cho phát triển các hoạt động du lịch. 6 Điểm du lịch nếu có quy mô lớn, mật độ điểm tham quan cao, nhiều tuyến thì sẽ thu hút được nhiều du khách quan tâm, trở thành điểm du lịch hấp dẫn, phát huy và khai thác hiệu quả. Kết nối các điểm du lịch chất lượng cao, đẹp hơn, hấp dẫn hơn, có ý nghĩa quốc gia và quốc tế để hình thành các tuyến, sản phẩm du lịch thu hút khách, tạo điều kiện phát triển du lịch, hạ tầng du lịch, hạ tầng kỹ thuật dọc tuyến. Ngược lại, một hành trình du lịch với các dịch vụ du lịch hấp dẫn sẽ thu hút sự quan tâm của du khách đối với các điểm du lịch tạo nên hành trình du lịch.
Chức năng của điểm du lịch có quan hệ mật thiết với chức năng của tuyến du lịch. Để hình thành lên tuyến điểm du lịch cần các nhân tố sau: đầu tiên cần có điểm đến hấp dẫn, từ các tài nguyên du lịch, các sự kiện hoạt động giải trí phải có sức hấp dẫn riêng, tạo ra sức hút du khách đến trải nghiệm và tham quan. Tiếp đến là hệ thống giao thông, giao thông càng thuận lợi, du khách càng dễ tiếp cận điểm đến. Cơ sở lưu trú, đây là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng hành trình của du khách, góp phần vào quyết định có hay không quay trở lại điểm đến này của khách du lịch.
Cuối cùng là về cơ sở hạ tầng, các khu vui chơi giải trí, trung tâm mua sắm, dịch vụ khác là yếu tố nói lên sự phát triển của điểm đến. Có thể thấy sự phát triển của ngành du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của tuyến điểm đến du lịch. Điểm tuyến du lịch có thể hiểu là sự kết nối các điểm du lịch hấp dẫn với hệ thống giao thông, cơ sở lưu trú và cơ sở hạ tầng tạo thành một chuỗi hoạt động du lịch để du khách đến tìm hiểu, tham quan, trải nghiệm. Làng nghề và du lịch làng nghề 1.
Làng nghề Theo Huỳnh Đức Thiện – Tiến sĩ lịch sử Việt Nam, làng nghề là một cụm dân cư sinh sống tại nông thôn với hoạt động kinh tế truyền thống là sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động phi nông nghiệp, sản xuất một mặt hàng nào đó có tính chuyên môn cao và mang lại nguồn thu nhập cho cả làng.Trương Minh Hằng, làng nghề là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ những nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời.[22] Làng nghề được hình thành và phát triển gắn với yếu tố lịch sử (phải được hình thành trong một thời gian nhất định) và yếu tố chuyên môn một nghề nào đó. Thông tư số 116/2006/TT-BNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn đã nêu ra rằng: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Làng nghề được công nhận phải đạt cả 03 tiêu chí sau: Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này.
Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành. Làng nghề có thể hiểu là một không gian cộng đồng, một hoạt động kinh tế mang tính di sản văn hóa sâu sắc, một môi trường văn hóa chuyển tải những đặc trưng văn hóa nghệ thuật của làng và sản phẩm thông qua công nghệ, phong tục tập quán dân gian, kinh nghiệm sản xuất và phong tục làng nghề. Nơi đây không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa, mà còn là nơi phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội, giúp bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương và phát triển du lịch. Thông tư số 116/2006/TT-BNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành 8 nghề nông thôn đã nêu ra rằng: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành lâu đời”.
Làng nghề truyền thống là tập hợp người chung sống cùng trong phạm vi lãnh thổ nhất định, cùng làm việc bằng một ngành nghề giống nhau dưới sự quản lý của địa phương. Một làng nghề có thể có một hoặc một vài làng nghề truyền thống, làng sẽ được gọi theo tên nghề chính của làng. Sản phẩm của làng nghề đều có quy trình công nghệ nhất định được truyền từ đời này sang đời khác. Làng nghề còn được coi là môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, nó bảo lưu nhưng tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật nghề truyền từ đời này sang đời khác.
Sản phẩm của làng thường mang giá trị văn hóa cao, do đó phát triển các làng nghề góp phần giữ gìn được nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Làng nghề truyền thống là một địa phương, một khu vực mà tại đó đa số người dân kiếm sống từ sản phẩm đặc trưng của làng, gắn với văn hóa truyền thống và được truyền từ đời này sang đời khác. Du lịch làng nghề Nói tới du lịch là nói đến hoạt động con người rời khỏi nơi ở thường xuyên của mình để đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa vật chất, tinh thần thông qua tiêu dùng các sản phẩm du lịch mang những giá trị văn hóa độc đáo nhất định và có thể đem lại hiệu quả kinh tế quan trọng cho người dân địa phương làm du lịch[10]. Quan niệm đó có ý nghĩa quan trọng đối với bản chất làng nghề, cả về khía cạnh kinh tế lẫn văn hóa làng nghề.
Nhìn từ góc độ du lịch, người ta nói rằng: “Bất cứ tài nguyên tự nhiên hoặc nhân văn nào, bất cứ sản phẩm lĩnh vực sản xuất nào, nếu được thiết kế, cải tạo và vận hành phù hợp đều có thể trở thành sản phẩm du lịch để giới thiệu với du khách”.[21] Như vậy làng nghề có thể được coi như là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch. Đến với các làng nghề, du khách sẽ được khám phá, tìm hiểu, tham gia trực tiếp vào quy trình sản xuất sản phẩm 9 truyền thống, đồng thời thâm nhập vào đời sống cộng đồng để hiểu biết hơn về phong tục tập quán nơi đây. Du lịch làng nghề được hiểu khái quát là loại hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, các sản phẩm do nghề thủ công của làng nghề tạo ra như là một đối tượng tài nguyên du lịch có giá trị, được khai thác để phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, tham quan tìm hiểu du lịch, tham gia vào các công đoạn sản xuất các sản phẩm đặc trưng của làng nghề; Từ đó mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương và đất nước, góp phần tôn vinh, bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa và tăng cường vai trò kinh tế của làng nghề.TS Phạm Quốc Sử: Du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh thái nhân văn được tiến hành tại các làng nghề tiêu biểu, mà ở đó còn lưu giữ tương đối nguyên vẹn các di sản văn hóa làng xã truyền thống đặc biệt là truyền thống công nghệ cổ thông qua bàn tay tài hoa của những nghệ nhân tài giỏi.[28] Du lịch làng nghề được hiểu là loại hình du lịch phục vụ khách du lịch dựa trên cơ sở phát triển các giá trị văn hóa truyền thống và kỹ năng nghề nghiệp thể hiện trong nghề thủ công mỹ nghệ. Du lịch làng nghề góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.
Nó có tác dụng nhất định đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhờ hoạt động du lịch mà các sản phẩm của làng nghề không chỉ có giá trị văn hóa mà còn có giá trị kinh tế, mang lại thu nhập cho người dân. Du lịch làng nghề là một quá trình kỹ thuật khám phá, tìm hiểu các nghề thủ công truyền thống, đồng thời đưa phong tục, tập quán, thói quen của các làng nghề truyền thống vào đời sống cộng đồng. Ẩm thực và du lịch ẩm thực 1. Ẩm thực 10 Ẩm thực là khái niệm dùng để chỉ món ăn, thức uống và cách chế biến, thưởng thức chúng.
Ẩm thực đó có thể là món ăn đặc sản hoặc các món ăn bình thường khác. Theo nghĩa Hán Việt thì Ẩm có nghĩa là uống, thực nghĩa là ăn, kết hợp lại tạo ra từ ăn uống. Ẩm thực cũng có nghĩa là một nền văn hóa ăn uống của dân tộc, trở thành một tập tục thói quen trong sinh hoạt của con người, ẩm thực không chỉ được coi là văn hóa vật chất mà còn là văn hóa tinh thần đối với đời sống con người. Với người Việt Nam từng trải qua nhiều thế kỷ, cuộc sống đối mặt với bao khó khăn, gian khổ và phải đấu tranh mới giành lấy, việc ăn uống là việc trước hết để đảm bảo sự sống còn.
Cái hay, cái đẹp và sự ngẫu nhiên của ăn uống đó là sự tự có mặt của nó trong quá trình tồn tại của con người. Từ cuộc sống nguyên thủy, là cuộc sống ăn lông ở lỗ đến việc đun sôi và nấu chín trên bếp, chế biến một cách đơn giản nhất, thì theo dòng lịch sử cùng với sự phát triển của con người, thực phẩm được chế biến thành nhiều món ăn đặc sắc riêng biệt ở những miền địa phương khác nhau.