CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Trong một bài báo có tựa đề “Vietnam aims to develop craft village tourism” (Việt Nam hướng đến phát triển du lịch làng nghề), được đăng tải trên trang báo điện tử CABI năm 2005 của tác giả David Simpson cho rằng Việt Nam có một di sản phong phú về nghệ thuật và thủ công truyền thống. Các làng nghề thủ công đã xuất hiện ở Việt Nam trong nhiều thế kỷ, như một phương tiện bổ sung thu nhập từ nông nghiệp.
Nhưng trong khi một cuộc khảo sát 9 ngôi làng như vậy của tổ chức Asia Seed nhận thấy Việt Nam có rất nhiều khu vực thủ công truyền thống đa dạng so với các quốc gia khác trong khu vực, nghiên cứu chỉ ra rằng di sản này mâu thuẫn với việc ngành du lịch trong nước không tổ chức phát triển du lịch hiệu quả ở những khu vực này. Trong bài “Study System about Residents' Perceptions and Attitudes to the Tourism Impacts and its Reflection on TourismDevelopment in Ancient Villages”( Hệ thống nghiên cứu về nhận thức và thái độ của người dân đối với tác động của du lịch và phản ánh của nó về phát triển du lịch ở các làng cổ), của tác giả LU Song và Trương Jie, được đăng tải trên tạp chí Khoa học tự nhiên, số 2, Trung Quốc (2009) đã nghiên cứu nhận thức và thái độ cư dân với các tác động du lịch và tác động của nó đối với phát triển du lịch ở các làng bản truyền thống cổ xưa. Từ đó, có những đề xuất nhằm thay đổi nhận thức của người dân nơi đây về phát triển du lịch làng cổ trong tương lai. Trong nghiên cứu của Awgichew (2010) về các chính sách và các giải pháp nhằm xúc tiến các làng nghề nông thôn ở Ethiopia tại Hội thảo quốc tế về phát triển các làng nghề đã nêu lên các kinh nghiệm của Chính phủ Ethiopia trong việc chú trọng nâng cấp, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng giúp các làng nghề phát triển: Với 83% người dân Ethiopia sống ở các vùng nông thôn và sinh kể xuất phát từ nông nghiệp.
Chính phủ Ethiopia đã thông qua chiến lược công nghiệp hoa phát triển 10 nông nghiệp (ADLI), đóng vai trò làm khung cho qui hoạch đầu tư nông thôn trong các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nghiên cứu và mở rộng. Kế hoạch phát triển bền vững và nhanh chóng để chấm dứt đôi nghèo có 70% người dân nông thôn được tổ chức theo hợp tác xã, 200 điểm cung cấp thông tin thị trường cấp huyện và 20 trung tâm ở vùng sâu vùng xa của Ethiopia đã được dựng lên; 25 trung tâm giáo dục và đào tạo nghề ra đời: 55.000 công nhân được đào tạo; 18.000 trung tâm đào tạo cho nông dân được lập lên; 10 triệu người được đảo tạo; làm giảm khoảng cách đi bộ trung binh trên mỗi con đường xuống còn 3,2 giờ; 8 triệu đường dây điện thoại (cố định, không dây và di động) và tăng dịch vụ truyền thông và công nghệ thông tin. Việc mở rộng cơ sở hạ tầng này thực hiện theo cấp số nhân. Thay đổi cách sống của người dân vùng nông thôn, đặc biệt là bằng cách giúp họ có thể sử dụng được các thiết bị máy móc hiện đại và kết nối họ với thế giới hiện đại.
Dưới sự tài trợ của Tổ chức Rockefeller, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Cộng đồng (Trung Quốc) đã nghiên cứu về Tim hiểu và Thương mại hóa nghề thủ công ở tỉnh Vân Nam. Mục đích của dự án là cải thiện thu nhập của phụ nữ ở huyện miền núi Malutang bằng cách thương mại hóa sản phẩm thêu truyền thống. Đầu tiên, họ triển khai thu thập toàn bộ mẫu thêu truyền thống và thay đổi sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay. Sau đó, những người phụ nữ tham gia dự án sẽ được huấn luyện kỹ thuật gia công, tạo mẫu để có thể sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao và tiêu thụ tốt trên thị trường.
Cuối cùng, dự án đưa ra khung chi phí hợp lý về sản phẩm do những người tham gia dự án thực hiện; bao gồm: số lượng nguyên vật liệu, thời gian và giá cả có thể tạo thu nhập cao. Dự án thành công và được chuyển giao đến những huyện vùng núi khác ở tỉnh Vân Nam. Làng Malutang trở thành một địa phương nổi tiếng về mặt hàng thêu truyền thống. Trong nghiên cứu của T.Otsuka, Vu Hoang Nam (2010), "An Inquiry into the Development Process of Village Industries: The Case of a Knitwear Cluster in Northern Vietnam", The Journal of Development”, số 2, NXB 11 Taylor & Francis Online đã tìm hiểu quá trình phát triển của một làng nghề truyền thống chuyên sản xuất mặt hàng may mặc đang phát triển ở miền Bắc Việt Nam trong điều kiện các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được biết là có nhiều tiềm năng để phát triển nhưng lại không được đầu tư.
Họ cho rằng có hai điều kiện quan trọng là con người và vốn xã hội (đo bằng các mối quan hệ họ hàng với thương nhân Việt Nam ở nước ngoài) của các chủ sở hữu, điều này tạo điều kiện để mở rộng hoạt động trao đổi, mua bán vào thị trường xuất khẩu mới. Hơn nữa, trình độ và kinh nghiệm quản lý của nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cụ thể góp phần nâng cao hiệu suất doanh nghiệp. Nghiên cứu trong nước Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực: Văn hóa, lịch sử, du lịch. Trong du lịch, làng nghề thủ công truyền thống được xem như là một yếu tố của tài nguyên du lịch.
Vì vậy, những nghiên cứu về các làng nghề thì có nhiều, nhưng nghiên cứu để đánh giá nó như một tài nguyên cho ngành du lịch thì hầu như rất ít. Đối với nghề gốm nói riêng, cũng đã thấy nhiều cuốn sách tìm hiểu và tôn vinh nghề gốm. Tuy nhiên, các nghiên cứu hầu hết chỉ tập trung vào nghiên cứu một số làng nghề thủ công nổi tiếng như Bát Tràng, Thổ Hà, Bình Dương. và nhìn nhận nó dưới góc độ văn hóa hoặc kinh tế.
Năm 2010, nhóm tác giả Vũ Văn Nhiên, Nguyễn Minh Thắng, Đậu Xuân Luận với bài “Hỏi đáp về các làng nghề truyền thống Hà Nội”, đã trình bày dưới dạng hỏi - đáp về lịch sử, đặc trưng và giá trị của các làng nghề, phố nghề ở Hà Nội: làng gốm Bát Tràng, làng nghề kim hoàn Định Công, chạm khắc gỗ Thiết Ứng, nghề dát vàng bạc Kiêu Kỵ, đúc đồng Ngũ Xã… Từ đó cung cấp cho bạn đọc nhiều thông tin có giá trị liên quan đến các làng nghề truyền thống ở Hà Nội xưa và nay. Năm 2010, tác giả Bạch Thị Lan Anh với nghiên cứu “Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề truyền thống trong 12 giai đoạn hiện nay ở nước ta. Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh sự phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Năm 2012, nhóm tác giả Phạm Xuân Hậu, Trịnh Văn Anh với nghiên cứu “Giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở Việt Nam phục vụ du lịch” đã tổng quát về hệ thống làng nghề của Việt Nam và nêu nên những động lực cũng như tiềm năng của Việt Nam để phát triển du lịch làng nghề.
Từ đó, đưa ra những giải pháp để nhằm phát triển du lịch làng nghề bền vững như: Xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách; Đẩy mạnh xúc tiến thương mại; Áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất các sản phẩm; Đào tạo nguồn nhân lực,… Năm 2015, tác giả Huỳnh Quốc Thắng với nghiên cứu “Phát triển bền vững văn hóa và du lịch làng nghề” đã nêu ra những định hướng, giải pháp để phát triển bền vững văn hóa làng nghề và du lịch làng nghề. Đồng thời, đề cập đến một số kinh nghiệm phát triển du lịch làng nghề truyền thống từ các nước như Thái Lan, Nhật Bản,… từ đó nêu ra những thiếu sót và rút kinh nghiệm cho việc phát triển du lịch làng nghề nước nhà theo hướng bền vững. Năm 2019, tác giả Vũ Từ Trang đã cho ra đời cuốn sách “Nghề cổ nước Việt – từ truyền thống đến hiện đại”. Tác giả đã đề cập một cách tổng quát về 25 nghề thủ công của Việt Nam theo ba miền Bắc – Trung – Nam và làng nghề tiêu biểu của Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại.
Đồng thời trong đó tác giả cũng thể hiện sự trăn trở về nghề thủ công Việt Nam đứng trước sự thăng trầm của lịch sử. Nghiên cứu tại Hải Dương Trong đề tài: “Phát triển du lịch làng nghề ở tỉnh Hải Dương” năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Huệ đã đánh giá được tiềm năng, thực trạng phát triển hoạt động du lịch làng nghề của tỉnh Hải Dương từ đó nêu ra những kết quả đã đạt được và các vấn đề hạn chế còn tồn đọng và đưa ra được những giải pháp phù hợp để giúp cho du lịch làng nghề của Hải Dương ngày càng phát triển theo hướng bảo tồn, bền vững. 13 Trong đề tài: “Văn hóa làng nghề truyền thống tỉnh Hải Dương” năm 2009, tác giả Trần Thị Thu Diễn đã chỉ ra những điểm đặc sắc trong các làng nghề truyền thống, từ đó đưa ra những giải pháp để phát triển du lịch làng nghề phù hợp với tài nguyên vốn có. Theo tác giả, yếu tố có tính chất quyết định cho mục tiêu bảo tồn và sau đó là phát triển làng nghề chính là vốn đầu tư.
Trên thực tế nhu cầu đầu tư làng nghề truyền thống Hải Dương là rất lớn nhưng cũng chỉ là bước đầu. Đầu tư phát triển làng nghề truyền thống nhằm vào những mục đích thúc đẩy hoạt động du lịch, cải tạo, nâng cấp và đầu tư phát triển đa dạng hóa các sản phẩm du lịch. Với tiềm năng du lịch sẵn có của mình, Hải Dương có thể trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách không chỉ bằng các chương trình du lịch tới thăm quan các danh thắng, di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội mà còn với các chương trình du lịch kết hợp giữa các tài nguyên du lịch nhân văn với các làng nghề.