CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH LÀNG NGHỀ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Tài nguyên du lịch Theo điều luật du lịch số 09/2017/QH14 Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa: - Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.
- Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ kiến trúc, giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Loại hình du lịch: Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây. - Phân chia theo môi trường tài nguyên: + Du lịch thiên nhiên + Du lịch văn hoá - Phân loại theo mục đích chuyến đi: + Du lịch tham quan + Du lịch giải trí + Du lịch nghỉ dưỡng + Du lịch khám phá + Du lịch thể thao 4 Thang Long University Library + Du lịch lễ hội + Du lịch tôn giáo + Du lịch nghiên cứu (học tập) + Du lịch hội nghị + Du lịch thể thao kết hợp + Du lịch chữa bệnh + Du lịch thăm thân + Du lịch kinh doanh - Phân loại theo lãnh thổ hoạt động + Du lịch quốc tế + Du lịch nội địa + Du lịch quốc gia - Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch + Du lịch miền biển + Du lịch núi + Du lịch đô thị + Du lịch thôn quê - Phân loại theo phương tiện giao thông + Du lịch xe đạp + Du lịch ô tô + Du lịch bằng tàu hoả + Du lịch bằng tàu thuỷ + Du lịch máy bay - Phân loại theo loại hình lưu trú + Khách sạn + Homestay + Camping + Bungalouge + Làng du lịch - Phân loại theo lứa tuổi du lịch + Du lịch thiếu niên 5 + Du lịch thanh niên + Du lịch trung niên + Du lịch người cao tuổi - Phân loại theo độ dài chuyến đi + Du lịch ngắn ngày + Du lịch dài ngày - Phân loại theo hình thức tổ chức + Du lịch tập thể + Du lịch cá thể + Du lịch gia đình - Phân loại theo phương thưc hợp đồng + Du lịch trọn gói + Du lịch từng phần 1.
Làng nghề và làng nghề truyền thống: Xét về mặt pháp lý, Theo Nghị định về phát triển nghành nghề nông thôn Số 52/2018/NĐ- CP Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động nghành nghề nông thôn bao gồm: - Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản - Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ - Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất nghành nghề nông thôn - Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ - Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh - Sản xuất muối - Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn Xét theo góc độ kinh tế, trong cuốn “Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Tiến sĩ Dương Bá Phượng cho rằng: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu thập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng”. 6 Thang Long University Library Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam” thì làng nghề được xác định như sau: “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm.
Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương”. Làng nghề theo cách phân loại về thời gian gồm có: làng nghề truyền thống và làng nghề mới. Khóa luận chỉ đi sâu tìm hiểu làng nghề truyền thống vì có nhiều ý nghĩa trong phát triển du lịch. Xét về mặt pháp lý, tại Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ quy định: Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính chất riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một hoặc thất truyền.
Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Làng nghề truyền thống phải có đủ các tiêu chí của làng nghề, đồng thời phải có ít nhất một nghề truyền thống tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Đặc điểm của làng nghề truyền thống: - Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp. Các làng nghề xuất hiện và tồn tại trong từng làng xã ở nông thôn.
Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen nhau. Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vùa làm thủ công nghiệp. Sự ra đời của các làng nghề đầu tiên là do nhu cầu giải quyết lao động phụ, lao động dư thừa lúc nhàn rỗi giữa các mùa vụ và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình và của từng làng xã.
- Công nghệ, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống: Nghĩa là có bước tiếp nối, truyền tải, kết tinh giá trị từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chất lượng sản phẩm của làng nghề không phụ thuộc vào công cụ sản xuất hiện đại, có năng suất cao, theo 7 dây truyền mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, bí quyết tài hoa của người thợ chế tác đồ thủ công. - Đại bộ phận nguyên liệu của làng nghề truyền thống là tại chỗ: Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ các nguồn nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương, đặc biệt các nghề truyền thống sản xuất những sản phẩm tiêu dùng như: đan lát mây, tre( mũ, rổ, rá, sọt,.) - Phần đông lao động trong các làng nghề truyền thống là lao động thủ công: Trước kia, do trình độ kỹ thuật và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là lao dộng thủ công đơn giản. Hầu hết các làng nghề truyền thống dù hình thành bằng con đường nào đi nữa thì chúng đều có các nghệ nhân làm cốt lõi và là người hướng dẫn để phát triển làng nghề.
- Sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, địa phương, vùng miền: Mỗi sản phẩm làng nghề gắn với một làng nghề cụ thể, do đó mang đậm nét độc đáo của địa phương. Sự khéo léo của đôi bàn tay cùng với óc thẩm mỹ của người nghệ nhân đã tạo ra sản phẩm thủ công độc đáo. - Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề truyền thống chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân: Trong quá khứ cũng như hiện nay, hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến trong các làng nghề là hộ gia đình. Với hình thức này, hầu như tất cả các thành viên trong hộ đều được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh.
Người chủ gia đình đồng thời là người thợ cả, mà trong số họ có không ít những nghệ nhân, tùy theo nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mướn thêm người lao động thường xuyên hoặc lao động thời vụ. Tổ chức kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia sản xuất kinh doanh, tận dụng được thời gian và nhu cầu đầu tư thấp (sử dụng nhà ở làm nơi sản xuất). Đây là hình thức tổ chức thích hợp với quy mô nhỏ. Tuy nhiên, mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển kinh doanh.
Sản xuất theo mô hình nhỏ khó có thể nhận được các hợp đồng đặt hàng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm, không đủ tầm nhìn để định hướng phát triển hoặc đề ra những chiến lược kinh doanh cho sản phẩm của mình. 8 Thang Long University Library 1. Du lịch làng nghề Du lịch làng nghề thuộc loại hình du lịch văn hóa. Trước hết phải hiểu thế nào là du lịch văn hóa.
Theo Tiến sĩ Trần Nhạn trong cuốn “Du lịch và kinh doanh du lịch” thì: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn hóa, những phong tuc tập quán còn hiện diện…Bao gồm hệ thống đình, chùa, nhà thờ, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp,…” Đối với làng nghề truyền thống thì đó là nơi chứa đựng kho tàng kinh nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống. Đó chính là phần văn hóa phi vật thể. Ngoài ra làng nghề truyền thống còn có các giá trị văn hóa khác như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếp đến các làng nghề, các sản phẩm thủ công của làng nghề thủ công truyền thống. Khách du lịch đến đây chính là để tìm hiểu các giá trị văn hóa đó.