CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI DU LỊCH CUỐI TUẦN CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu hành vi du lịch của khách du lịch Theo Kaye Sung Chon, Abraham Pizam, Yoel Mansfeld (1999) trong “Consumer Behavior in Travel and Tourism” - “Hành vi của người tiêu dùng trong du lịch và lữ hành” xác định mong muốn và nhu cầu của khách du lịch, bao gồm: thảo luận và đánh giá các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng trong du lịch. Chẳng hạn như động cơ đi du lịch, lựa chọn điểm đến và hệ quả là hành vi du lịch; khám phá các quy trình ra quyết định khác nhau của người tiêu dùng dẫn đến các lựa chọn điểm đến tiếp theo thông qua phân tích nghiên cứu điển hình và đề xuất tiếp thị; kiểm tra các công cụ nghiên cứu được chọn, chẳng hạn như định vị và tái định vị sản phẩm và sử dụng bản đồ nhận thức, để đánh giá tác động thị trường của việc sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu định tính hoặc định lượng; phát hiện và phân tích vai trò tương đối của các yếu tố cá nhân, môi trường, kinh tế xã hội và nhân khẩu học trong việc lựa chọn điểm đến du lịch.
Theo tiến sĩ Abraham Pizam, tiến sĩ Arie Reichel, tiến sĩ Natan Uriely (2001) trong “Journal Hospitality & Leisure Marketing” - “Tạp chí Tiếp thị Khách sạn và Giải trí” về “Hành vi tìm kiếm cảm giác và du lịch”. Nghiên cứu này đã phân tích ảnh hưởng của đặc điểm tâm lý tìm kiếm cảm giác đến việc lựa chọn hoạt động du lịch và sắp xếp chuyến đi ưa thích. Kết quả của nghiên cứu, được thực hiện với 349 sinh viên đại học ở Israel, cho thấy những người thích tham gia các môn thể thao mạo hiểm trong khi đi du lịch, đạt điểm cao hơn trong thang đo tìm kiếm cảm giác Zuckerman (SSS) so với những người thích tham quan văn hóa. Các điểm tham quan di sản, các điểm tham quan nhân tạo, các điểm tham quan tự nhiên, xem các trận đấu thể thao hoặc tham gia các môn thể thao truyền thống.
Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những cá nhân tự sắp xếp chuyến đi (FIT) đạt điểm SSS cao hơn so với những người thích đi du lịch với các nhóm du lịch có hướng dẫn viên, với các chuyến du lịch trọn gói, với gia đình hoặc bạn bè. Theo Hsu, LA Cai, M LiLi trong “Journal of travel research, 2010” - “Expectation, Motivation, and Attitude: A Tourist Behavioral Model” - “Kỳ vọng, Động cơ và Thái độ: Mô hình hành vi của khách du lịch”. Nghiên cứu này tập trung vào giai đoạn trước khi đến thăm của khách du lịch bằng cách mô hình hóa quá trình hành vi kết hợp kỳ vọng, động cơ và thái độ trong bối cảnh du khách Trung Quốc ra nước ngoài. Một mô hình kỳ vọng, động lực và thái độ (EMA) được đề xuất dựa trên tổng quan tài liệu toàn diện.
Một công cụ được phát triển dựa trên các nghiên cứu về 5 du lịch và tiếp thị trước đây cũng như các nhóm tập trung để đo lường các biến số trong mô hình EMA. Dữ liệu được thu thập từ 1.514 cư dân Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu. Kết quả nghiên cứu khẳng định mối quan hệ đề xuất rằng kỳ vọng tham quan điểm du lịch nước ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến động cơ tham quan điểm đến; động cơ có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ tham quan điểm du lịch và động cơ có tác dụng trung gian đối với mối quan hệ giữa kỳ vọng và thái độ. Pearce (2011) trong “Tourist Behaviour and the Contemporary World” - “Hành vi du lịch và thế giới đương đại”.
Công trình này đã tìm cách xem xét và kích thích sự quan tâm đến các chủ đề mới nổi và mới mẻ trong hành vi và trải nghiệm du lịch đương đại. Các chủ đề được khám phá bao gồm tác động của các công nghệ mới hơn đối với hành vi và trải nghiệm của khách du lịch, trải nghiệm của khách du lịch về lừa đảo, an toàn và trách nhiệm cá nhân cũng như quan điểm cá nhân về tính bền vững. Nghiên cứu của tác giả tập trung vào hành vi của khách du lịch, đặc biệt là động cơ và kinh nghiệm du lịch, du lịch và cộng đồng, giáo dục và nghiên cứu du lịch. Theo Cansev Ozdemir và Medet Yolal (2017) trong “Cross - cultural tourist behavior: An examination of tourists’ behavior in guided tours” - “Hành vi du lịch xuyên văn hóa: Khảo sát hành vi của khách du lịch trong các chuyến tham quan có hướng dẫn viên”.
Nghiên cứu này cố gắng khám phá các đặc điểm hành vi của khách du lịch quốc tế đến thăm Istanbul trong các chuyến tham quan có hướng dẫn viên và kiểm tra sự khác biệt và tương đồng giữa khách du lịch thuộc các quốc tịch khác nhau bằng cách sử dụng dữ liệu do hướng dẫn viên du lịch Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp. Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng một địa điểm khảo sát được thiết kế để nghiên cứu dành cho các hướng dẫn viên du lịch người Thổ Nhĩ Kỳ làm việc tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả cho thấy có ba khía cạnh cơ bản trong hành vi của khách du lịch trong các chuyến tham quan có hướng dẫn, đó là mua sắm, hoạt động và tương tác xã hội. Sự khác biệt đáng kể được quan sát giữa bảy quốc tịch.
So sánh cặp của các nhóm thuộc ba chiều được thực hiện với mục đích tiết lộ những điểm tương đồng và khác biệt. Người Nhật được coi là nhóm khách du lịch khác biệt nhất so với những người khác. Các công trình trên đều đề cập đến yếu tố cấu thành nên hành vi du lịch, bao gồm: động cơ du lịch, mong muốn được trải nghiệm, mua sắm, tương tác với xã hội và tác động của công nghệ mới. Tuy nhiên các công trình này chưa nghiên cứu về đối tượng khách du lịch là sinh viên… 1.
Các công trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng hành vi du lịch của khách du lịch 6 Hành vi du lịch có thể hiểu bao gồm một tập hợp nhiều hoạt động của khách hàng trong quá trình mua và trải nghiệm sản phẩm du lịch. Đã có không ít những bài nghiên cứu về các giai đoạn của hành vi du lịch. Nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Harrison - Hill (2000) trong bài báo “Khảo sát nhận thức về khoảng cách và vận chuyển đường dài đến các điểm đến” công bố trên tạp chí “Phân tích du lịch” đã phát triển mô hình của Mathieson and Wall (1982) để đề xuất mô hình các nhân tố tác động tới sự lựa chọn điểm đến gồm hai nhóm nhân tố khách quan và chủ quan. Trong đó, tác giả tập trung vào nhóm nhân tố khoảng cách, thời gian đi du lịch, chi phí cho chuyến đi, các rủi ro có thể gặp phải cũng như kiến thức và tính hấp dẫn của điểm đến.
Đặc biệt, sự lựa chọn điểm đến được chia thành 3 giai đoạn: xem xét - cam kết - lựa chọn điểm đến cuối cùng. Khi khách du lịch biết về điểm đến, họ có thể cam kết sẽ lựa chọn (Evoked set), hoặc nhóm điểm đến không được chấp nhận (Insert set), hoặc nhóm điểm đến không muốn lựa chọn hay không quan tâm (Inept set). Một nhận định khác trong bài nghiên cứu của Jalilvand và cộng sự (2012) trên cơ sở những điểm đến đã được xem xét và cam kết lựa chọn, du khách sẽ lựa chọn những điểm đến cuối cùng cho chuyến du lịch của mình. Những thông tin cùng với kinh nghiệm của bản thân giúp hình thành nên hình ảnh về điểm đến thông qua cảm nhận đánh giá của du khách, từ đó hình thành nên thái độ và thúc đẩy cho dự định hay hành vi lựa chọn điểm đến xảy ra (Jalilvand, Samiei, Dini, & Manzari, 2012) Nhà nghiên cứu Oppewal, Huyber, & Crouch (2015) đã chỉ ra rằng tiến trình ra quyết định tiêu dùng của du khách là một chuỗi phức tạp của các quyết định như lựa xem xét các điểm đến, tham quan ở đâu, khi nào đi du lịch, đi với ai, đi bao lâu, chi phí khoảng bao nhiêu.
Buffa's (2015) “Study of young tourists’ profiles and attitudes revealed” - “Nghiên cứu về hồ sơ và thái độ của khách du lịch trẻ” nhận định khi lựa chọn điểm đến du lịch, việc khám phá những nền văn hóa, cảnh quan mới, cảm nhận di sản thiên nhiên và nghệ thuật, tiếp xúc với địa phương, cộng đồng, thiên nhiên là những tiêu chí được đặt lên hàng đầu. Trong một trích dẫn của tác giả có nói: Hầu hết du khách trẻ tuổi thích đồ ăn địa phương, thích nghi với truyền thống và phong tục của nơi họ đang nghỉ dưỡng, cố gắng tìm hiểu về điểm đến của họ trước khi đi du lịch. Họ luôn hào hứng với các sự kiện do cộng đồng địa phương tổ chức, ngay cả khi không có những tiện nghi nhất định. Họ tìm hiểu cách bảo vệ môi trường địa phương và giảm thiểu chất thải…” 7 Nhóm khách du lịch trẻ có tác động tương đối vào quy trình cung ứng sản phẩm du lịch như sản phẩm tour, các kênh bán hàng và các chiến dịch marketing (Bizir Giannia & Dionysopoulou, 2013, trang 652).
Do đó, động cơ và hành vi du lịch của nhóm khách này được tác động mạnh mẽ bởi những thông tin họ nắm được về điểm đến du lịch. Việc tìm hiểu thông qua internet, các trang mạng hay website là những phương thức phổ biến nhất. Nghiên cứu của Han và cộng sự (2017) đã nhận ra nhóm du khách trẻ có sự quan tâm lớn đến những vấn đề về môi trường và các sản phẩm du lịch liên quan đến môi trường - một loại hình du lịch mang tính bền vững. Nghiên cứu của nhóm tác giả Anish Yousaf, Insha Amin, Jose Antonio, C.
Santos (2018) - “Tourist’s motivation to travel: A theoretical perspective on the existing literature” - “Động cơ đi du lịch của khách du lịch: Một góc nhìn lý thuyết về các tài liệu” đã chọn lý thuyết nhu cầu của Maslow để phân tích động cơ du lịch của giới trẻ. Nghiên cứu lấy cơ sở từ hai nguồn tài liệu, thứ nhất là liên quan đến động cơ và thứ hai là giải quyết câu hỏi về động cơ ảnh hưởng đến loại hình du lịch. Kết quả được đưa ra tập trung vào hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow và xác nhận giá trị của nó như một lời giải thích về động cơ du lịch quan trọng nhất của nhóm đối tượng này.