Phần mở đầu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái Vĩnh Long. Chƣơng 4: Phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của du khách và các giải pháp phát triển du lịch sinh thái Vĩnh Long.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm tắt chƣơng 1 Chƣơng này nhằm mục đích trình bài tầm quan trọng của đề tài, các mục tiêu của đề tài, giới hạn về không gian, thời gian nghiên cứu của đề tài. Kết quả mong đợi của đề tài đạt đƣợc những gì và đối tƣợng nào đƣợc hƣởng lợi từ việc nghiên cứu. 3 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Các khái niệm cơ bản về du lịch 2. Khái niệm du lịch Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nƣớc phát triển mà còn cả các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam. Du lịch đƣợc xem nhƣ là một ngành “công nghiệp không khói”, là ngành thu hút một số lƣợng lớn lao động. Vì vậy, để khai thác ngành này một cách hiệu quả và đúng đắn chúng ta cần phải tiềm hiểu thật kỹ càng về nó.
Theo nhà địa lý học Michaud : Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại và nghỉ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thƣờng ngày với lý do giải trí, kinh doanh, sức khỏe, hội họp thể thao hoặc tôn giáo. Tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Roma-Italia (21/8/1963 – 5/9/1963), các chuyên gia đã đƣa ra các định nghĩa về du lịch nhƣ sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của họ. Theo khoản 1, điều 4 luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định rằng : Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tiềm hiểu, giải trí, nghĩ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì : Hoạt động du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tƣợng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện. Theo nhà kinh tế học ngƣời Áo Jozep Stander, nhìn từ góc độ du khách thì : Khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên để thỏa mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế. 4 Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dƣới mỗi gốc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngƣời có cách hiểu khác nhau về du lịch. Nhƣng dù hiểu nhƣ thế nào đi nữa thì du lịch vừa là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách vừa là một hiên tƣợng xã hội góp phần nâng cao tri thức, phục hồi sức khỏe cộng đồng.
Phân loại du lịch + Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ : đƣợc chia làm 2 loại : Du lịch quốc tế (International Tourism) : là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của du khách nằm trên lãnh thổ các quốc gia khác nhau, du khách phải đi qua biên giới và tiêu thụ ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Du lịch quốc tế đƣợc chia thành 2 loại : - Du lịch quốc tế chủ động (Inbound Tourism) - Du lịch quốc tế bị động (Outbound Tourism) Du lịch nội địa (Domestic Tourism) : đƣợc hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ ngƣời trong nƣớc đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tƣợng du lịch trong lãnh thổ quốc gia, về cơ bản không có sự giao dịch, thanh toán bằng ngoại tệ + Căn cứ vào nhu cầu đi du lịch của du khách: - Du lịch chữa bệnh - Du lịch nghỉ ngơi, giải trí - Du lịch thể thao - Du lịch công vụ - Du lịch tôn giáo - Du lịch khám phá - Du lịch thăm hỏi (thăm viếng) - Du lịch quá cản + Căn cứ vào phƣơng tiện giao thông : - Du lịch bằng xe đạp, mô tô - Du lịch tàu hỏa - Du lịch tàu biển 5 - Du lịch ô tô - Du lịch hàng không + Căn cứ theo phƣơng tiên lƣu trú: - Du lịch ở khách sạn là loại hình phổ biến nhất phù hợp với khách du lịch trung niên và có khả năng chi tiêu cao. - Du lịch ở Motel là loại dành cho du khách du lịch ô tô. - Du lịch nhà trọ phù hợp với số đông đối tƣợng du khách có khả năng chi tiêu trung bình và thấp.
- Du lịch camping phát triển rất mạnh phù hợp với du khách đi du lịch cuối tuần bằng phƣơng tiện xe đạp, mô tô và ô tô. Đối tƣợng du khách là lứa tuổi thanh thiếu niên + Căn cứ vào thời gian đi du lịch : - Du lịch dài ngày thƣờng là 2 tuần đến 5 tuần. - Du lịch ngắn ngày có thời gian dƣới 2 tuần (du lịch cuối tuần). + Căn cứ vào đặc điểm đại lý của điểm du lịch : - Du lịch miền biển : mục đích chủ yếu của du khách là tắm biển, tắm nắng và tham gia các hoạt động thể thao dƣới nƣớc.
- Du lịch núi : thỏa mãn nhu cầu tham quan cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng, nghỉ dƣỡng, leo núi. - Du lịch đô thị : Các thủ đô, thành phố có sức hấp dẫn đối với khách du lịch bởi các công trình kiến trúc mỹ thuật, nền văn hóa đặ sắc, độc đáo tầm cỡ quốc gia và quốc tế - Du lịch đồng quê : làng quê là nơi có không khí trông lành, cảnh vật yên bình và không gian thoang đãng là điều kiên tuyệt vời giúp du khách nghỉ ngơi, thƣ giản phục hồi sức khỏe. + Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch : - Du lịch theo đoàn : Các thành viên đi du lịch đƣợc tổ chức theo đoàn và thƣờng có chuẩn bị chuong trình du lịch sẳn. 6 Đƣợc chia làm 2 loại : du lịch theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch và du lịch theo đoàn thông qua tổ chức du lịch.
- Du lịch cá nhân : cá nhân du khách tự định ra tuyến hành trình, kế hoạch tham quan, lƣu trú, ăn uống theo sở thích thị hiếu của riêng mình. + Căn cứ vào thành phần du khách : - Du khách thƣợng lƣu là những du khách có khả năng thanh toán cao. - Du khách bình dân (du khách đại chúng) thỏa mãn số đông nhu cầu của du khách có khả năng thanh toán trung bình và thấp. + Căn cứ vào phƣơng thức ký kết hợp đồng đi du lịch : - Du lịch trọn gói : giá của chƣơng trình bao gồm vận chuyển, lƣu trú, ăn uống và dịch vụ tham quan, mức giá trọn gói thƣờng rẻ hơn so với mua riêng lẻ từng phần dịch vụ trong tour trọn gói - Mua từng phần dịch vụ của tour du lịch : du khách chỉ mua từng dịch vụ nhƣ dịch vụ vận chuyển hoặc dịch vụ lƣu trú.
Mối tương tác giữa du lịch và các lĩnh vưc khác 2. Du lịch và xã hội Nhận thức của cộng đồng xã hội về thế giới xung quanh nói chung, về hiện tƣợng du lịch nói riêng có ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động này. Ngày nay, việc đi du lịch không chỉ có ý nghĩa là thỏa mãn mục đích, nhu cầu đƣợc đặt ra cho chuyến đi mà còn phần nào thỏa mãn nhu cầu thể hiện mình trong xã hội của con ngƣời. Ở nhiều nƣớc trên thế giới, số lần đi du lịch là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá mức sống của ngƣời dân.
Trái lại, ở một số nƣớc khác du khách đƣợc nhìn nhƣ những kẻ vô công rỗi nghề hoặc do không muốn chấp nhận sự thâm nhập của lối sống khác vào cộng đồng, du lịch đƣợc xem là một hiểm họa cần ngăn chặn. Hai cách nhìn nhƣ vậy đã dẫn đến hai thái độ khác nhau, có ảnh hƣởng trái ngƣợc đến sự phát triển của du lịch. Đối với xã hội du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cƣờng sức sống cho ngƣời dân. Thông qua hoạt động du lịch mọi ngƣời hiểu nhau hơn, tăng cƣờng tình đoàn kết cộng đồng.
Những chuyến đi du lịch, tham quan các di 7 tích lịch sử, công trình văn hóa có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nƣớc, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Cũng chính nhờ có du lịch, cuộc sống cộng đồng trở nên sôi động hơn, các nền văn hóa có diều kiện hòa nhập với nhau, làm cho đời sống văn hóa tinh thần của ngƣời dân trở nên phong phú hơn. Nhƣng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng hoạt động du lịch cũng là môi trƣờng để các ảnh hƣởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách nhanh chóng nhƣ mại dâm, trộm cƣớp, nghiện hút. Du lịch và văn hóa Đối với du lịch các đối tƣợng văn hóa đƣợc coi là tài nguyên du lịch đặt biệt hấp dẫn.
Nếu nhƣ tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách bởi sự hoang sơ, độc đáo và hiếm hoi thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng nhƣ tính địa phƣơng của nó. Các đối tƣợng văn hóa tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú. Mặt khác nhận thức văn hóa còn là yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách. Chúng ta thấy rằng các sản phẩm văn hoa nhƣ tranh vẽ, điêu khắc,., các loại hình văn nghệ truyền thống cũng nhƣ hiện đại, hay những nét đặc trƣng về tôn giáo.
đã tạo nên sức hút hết sức lôi cuốn, sôi động và mạnh mẽ đối với du khách. Điển hình nhƣ các buổi biểu diễn dân ca, múa rối nƣớc, hoặc một buổi chợ nổi vào lúc sớm mai trên sông hay là những bức tranh Đông Hồ, tranh lụa.là những biểu hiện của nét văn hóa đặc trƣng thật sự thu hút và hấp dẫn du khách. Một trong những chức năng chính của du lịch là giao lƣu văn hóa giữa các cộng đồng. Khi đi du lịch du khách muốn đƣợc thâm nhập vào các hoạt động văn hóa của địa phƣơng.