Chương 1. Vài nét về vùng đất Yên Thành. Di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể.
7 Chƣơng 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT YÊN THÀNH 1. Khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí Xã Yên Thành ở phía Tây Nam huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, phía Đông giáp 2 xã Yên Mỹ và Yên Mạc; phía Tây giáp vùng đồi núi thành phố Tam Điệp; phía Bắc giáp xã Yên Hòa; phía Nam giáp 2 xã Yên Đồng và Yên Thái. Xã Yên Thành (hiện nay) có diện tích tự nhiên 8,74 km2.
Yên Thành có quá trình hình thành và phát triển khá lâu dài, có những nét độc đáo mà nhiều vùng đất khác hiếm có. Vào đầu giai đoạn Trung sinh, Kỷ Tri-át, cách ngày nay 225 triệu năm, chịu ảnh hưởng của chuyển động Ky mê ri (vào khoảng cuối kỷ Jura, đầu kỷ Bạch Phấn), đã tạo nên vùng núi hiện nay của Yên Thành, Yên Mô và của khu vực Ninh Bình. Thời kỳ này, đồi núi Ninh Bình đã nổi khỏi mặt biển. Sang đến giai đoạn Tân sinh, kỷ Palêôgen (cách nay 70 triệu năm), Ninh Bình chịu ảnh hưởng của vận động tạo sơn An-pơ, đã nâng ghềnh phía nam của sông Hồng lên.
Nhưng vùng Yên Thành ít chịu ảnh hưởng vận động tạo sơn này. Tiếp theo là thời kỳ biển tiến, biển lùi, và được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp, từ một vùng biển cả, Yên Thành trở thành một vùng lục địa như ngày nay. Những ngấn sóng đánh mòn chân núi đá vôi còn lại trên các dải núi ở Yên Thành là dấu tích biển thuở xa xưa còn lại. Từ buổi đầu dựng nước, (cách nay khoảng 4000 năm) khoảng 2/3 đất Yên Mô phần lớn còn là biển cả.
Cấu trúc địa tầng, địa mạo như vậy, chúng ta có thể hình dung được thời Tiền sử và Sơ sử, vùng Yên Mô (xưa) mới chỉ có một phần núi đồi quanh khu vực Đồng Giao, một phần Yên Thắng, Yên Đồng và Yên Thành, các nhà địa chất học gọi chung là “Địa tầng Đồng Giao”, nhưng núi đá vôi có nhiều hang động cac tơ nằm trên bình nguyên phù sa cổ. Đây là khu vực có nhiều hang động đá vôi và rừng rú. Rừng và núi ăn ra tới biển [6; tr. Điều kiện tự nhiên Địa hình Yên Thành không đều, đa dạng, tương đối phức tạp, chạy suốt sườn phía Tây và Tây Nam là dải núi Tam Điệp, đoạn cuối cùng của dãy 8 Trường Sơn từ Hòa Bình đổ về ra tới biển.
Yên Thành cùng với bảy xã miền Tây của huyện như xã Yên Thắng, Yên Đồng,. là vùng đất cổ, do hiện tượng tạo sơn mà thành, có nhiều núi đá vôi trữ lượng hàng triệu mét khối. Xen kẽ núi đá vôi là các đồi đất, thung lũng hẹp và những hang động đẹp. Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây Nam xuống Đông Bắc.
Do có các dải núi đồi che chắn nên khi biển lùi, tạo nên các thung lũng trũng, bởi thế, đồng đất Yên Thành thường “ngoài ghềnh trong trũng”, sự bồi tụ và lắng đọng của phù sa cổ cũng không đồng đều, vì thế các doi đất màu xen kẽ đồng chiêm, đồng mùa, rất khó khăn trong việc quy hoạch trồng cấy. Yên Thành là vùng đất bán sơn địa hình thành cách ngày nay hàng triệu năm. Theo tài liệu đất Ninh Bình thì “Vào đầu nguyên đại Trung sinh kỷ Triat, cách đây khoảng 225 triệu năm chịu ảnh hưởng của chuyển động tạo sơn đã tạo nên vùng núi hiện nay” [6; tr. Bên cạnh những đồi núi đá vôi là vùng đất chiêm trũng.
Vùng đất này vốn trước kia dưới chân núi còn là vùng nước của biển cả phía đông bắc của cửa biển Thần Phù. Điều này cũng có thể chứng minh đây là vịnh biển cạn, khi biển lùi trong điều kiện kín sóng do nhiều núi đồi xung quanh của dãy Tam Điệp che chở nên không đủ phù sa bồi lấp mà để sót lại vùng trũng như hiện nay. Như vậy đặc điểm nổi bật của địa hình Yên Thành gồm: vùng đồi núi đá và những đồng đất cao là vùng đất cổ từ xưa đã có người sinh sống, vùng này thích hợp với việc trồng chè, vải, sắn. Vùng đất thứ hai là vùng đồng trũng được biển bồi đắp, vùng đất này khoảng trên 500 năm trở lại đây mới hình thành đồng ruộng lúa nước như hiện nay.
Đây cũng là vùng đất hiểm yếu trong khu vực gắn liền với công cuộc giành độc lập ở thế kỉ XV. Yên Thành là một trong những xã miền núi. Toàn xã có 23 quả núi, đồi mọc rải rác ở cả 15 thôn. Núi đồi của xã nằm trong hệ thống núi đồi phía Tây Nam của tỉnh Ninh Bình.
Trong núi có nhiều hang động đẹp. Dưới chân núi đồi là làng xóm và đồng ruộng. Diện tích canh tác 740 ha, diện tích còn lại là núi đồi, làng xóm, sông rạch, đường xá. Sông ngòi Yên Thành dày đặc; quanh co, khuất khúc bởi địa hình phức tạp tạo nên.
Khí hậu thời tiết cũng khá phức tạp, vừa chịu ảnh hưởng khí hậu thời tiết gió mùa, vừa chịu ảnh hưởng khí hậu thời tiết tiểu vùng. Mùa hè, mùa 9 thu thường có mưa bão và có năm úng lụt khá lớn. Mùa hè có gió nồm nam từ biển thổi vào nhưng cũng ảnh hưởng gió Tây Nam thổi tới, gây nóng nực, khó chịu, có ngày nhiệt độ lên tới 38-39 độ C. Những tháng cuối mùa hè, nhiệt độ giảm xuống, mưa tăng đột biến, kèm theo giông bão, lũ lụt, gây nên tình trạng “chiêm khê mùa úng”.
Là một trong những xã nằm dưới chân núi Tam Điệp, mùa đông sương muối khá dày đặc, nhất là những ô thung lũng thấp và kín gió. Núi Tam Điệp chắn gió mùa Đông Bắc làm cho nhiệt độ xuống thấp đột ngột, tạo nên hiện tượng khô hanh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Địa hình thiên nhiên rừng núi nhiệt đới của Yên Thành với nhiều hang động, rừng xanh ăn ra tới lợi nước biển Đông, nên thời Tiền sử và Sơ sử rất hấp dẫn với người cổ giống như ở khu vực Đồng Giao. Các tài liệu khảo cổ học cho biết con người có mặt ở huyện Yên Mô cách ngày nay 3 – 4 vạn năm về trước.
Xã Yên Thành có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh bao gồm hệ thống đường bộ đã cơ bản được bê tông hóa, trục đường chính chạy qua địa bàn xã được nhựa hoá bên cạnh đó còn có đường đê Hồ Yên Thắng là tuyến đường được đầu tư xây dựng khá hiện đại. Cùng với hệ thống sông ngòi, các tuyến đường liên huyện, liên xã chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân giao lưu với các tỉnh miền Bắc, miền Trung, miền biển huyện Kim Sơn, miền Tây Bắc dễ dàng thuận tiện. Quá trình hình thành vùng đất Yên Thành 1. Địa danh vùng đất Yên Thành trong lịch sử Xã Yên Thành gồm 15 thôn: Thôn La Phù, Phúc Bái, thôn Đanh, thôn Đoài, thôn Tiên An, thôn Tiên Dương, thôn Giang Khương, thôn Kênh, thôn Chín Hai, thôn Tám Ba, thôn Thượng Phường, thôn Bạch Liên, thôn Lộc, thôn Trại Đanh, thôn Yên Hóa.
Theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi thì vùng đất này thời nhà Trần thuộc khu vực xứ Mô Độ. Năm 1407, Trần Ngỗi lên ngôi Hoàng đế, lấy căn cứ cạnh bến Mô Độ làm nơi tế cờ xuất quân đánh giặc. Thời thuộc Minh (1417- 1427) đổi Mô Độ thành Yên Mô, thuộc châu Trường Yên, phủ Kiến Bình. Thời Hậu Lê, đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460-1469), Yên Mô thuộc phủ Trường Yên.
10 Qua các đợt khảo sát khảo cổ học cho thấy sự có mặt sớm của con người trên mảnh đất này, các di tích không xa trong vòng bán kính khoảng 2 km có di chỉ khảo cổ học Đồng Vườn, di chỉ khảo cổ học Mán Bạc có cư dân tiền sử sống cách chúng ta ngày nay từ 3000 đến 7000 năm ở phía Tây Bắc; ngoài ra còn có một di tích thời Trần (đền La, thôn La Phù) đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1994. Và cũng có nhiều bằng chứng cho thấy nơi đây là trung tâm sản xuất gốm thời phong kiến ở Đông Nam đồng bằng Bắc Bộ, đó là sự quan hệ qua lại giữa các dòng họ có nghề truyền thống làm gốm ở Bát Tràng – Hà Nội và Yên Thành – Yên Mô cũng như những di vật còn xuất lộ dưới lòng đất. Vào đầu thế kỷ XVII, vùng đất này thuộc xã Bồ Xuyên, địa danh này có nghĩa là vùng sông (xuyên) có nhiều cây bồ bồ. Theo như truyền thuyết thì khi người dân ở đây biết làm bát (làm gốm) thì đổi địa danh là Bồ Bát, khi làm được bát phủ men trắng thì gọi là Bạch Bát.Vào thế kỷ XVIII, vùng đất này thuộc xã Bạch Bát, huyện Yên Mô.
Theo dòng lịch sử xã Yên Thành đã trải qua nhiều lần thay đổi địa danh, địa giới hành chính. Trước năm 1945, vùng đất xã Yên Thành thuộc tổng Bạch Liên huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Năm 1946, xã Bồ Xuyên và xã Bạch Liên hợp nhất thành lập xã Đại Thành. Các xã Tràng Khê (Trường Khê), Yên Duyên (Yên Diêu), Mã Chiên và Hoàng Nệ (Hoàng Trách) hợp nhất thành xã Đại Đồng.
Ngày 15 tháng 4 năm 1949, Ủy ban hành chính tỉnh Ninh Bình ra quyết định hợp nhất 3 xã Đại Đồng, Đại Thành, Yên Tế thành lập xã Yên Thành. Năm 1956, thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất, xã Yên Thành được chia tách thành 2 xã: Xã Yên Đồng gồm 2 xã Đại Đồng và Yên Tế (trước năm 1949); xã Yên Thành (giữ nguyên địa giới xã Đại Thành năm 1949). Tháng 10/1956, thôn Thượng Phường của xã Yên Thành được tách ra sáp nhập vào xã Yên Thắng nhưng đến tháng 10/1967 thôn Thượng Phường lại được sáp nhập vào xã Yên Thành. Năm 1949, có 7 thôn thuộc xã Bồ Xuyên: thôn La Phù, Phúc Bái, Thôn Lợi, thôn Đanh, thôn Đoài, thôn Đông và thôn Tiên An (trừ xóm Yên Lộc thuộc thôn La Phù nhập vào xã Yên Mỹ), 3 thôn của xã Bạch Liên: 11 thôn Tiên Dương.(trừ xóm Ba Mươi thuộc thôn Tiên Dương được sáp nhập vào xã Yên Đồng) tách thôn Giang Khương thuộc xã Yên Thái sáp nhập vào xã Yên Thành, thôn Trại Đanh.
Năm 1957 thôn Kênh (trước kia là xóm) thuộc thôn Tiên An tách ra thành thôn mới của xã Yên Thành, Năm 1983, thực hiện chủ trương của tỉnh về việc di dân khai khẩn đất hoang xây dựng vùng kinh tế mới, xã Yên Thành thành lập thêm thôn Tám Ba. Năm 1992, tiếp tục xây dựng vùng kinh tế mới địa bàn xã thành lập thôn mới, gọi là thôn Chín Hai [3; tr.