CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU. Định nghĩa và giải thích khái niệm làm việc. Thao tác hóa khái niệm “hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi”. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu.
Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu.27 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HÀNH VI KHÁM CHỮA BỆNH VÀ SỰ KHÁC BIỆT VỀ CÁC HÀNH VI KHÁM CHỮA BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI. Thực trạng sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh của người cao tuổi ở khu vực miền núi Tây Bắc. Sự khác biệt trong hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi. 59 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
64 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Tình hình sức khỏe của người cao tuổi phân theo tỉnh. Tình hình mắc bệnh tật của người cao tuổi phân theo tỉnh .3: Tình hình mắc bệnh tật của người cao tuổi ở hai tỉnh Hà Giang và Điện Biên phân theo giới tính .4: Tình hình bệnh tật của người cao tuổi thuộc hai tỉnh Hà Giang và Điện Biên phân theo nhóm tuổi .5: Tình hình khám sức khỏe của người cao tuổi khu vực miền núi Tây Bắc .6: Nguồn tiền khám chữa bệnh của người cao tuổi phân theo tỉnh .7: Số lần nằm viện của người cao tuổi phân theo tỉnh.8: Hành vi lựa chọn cơ sở y tế của người cao tuổi phân theo tỉnh.9: Hành vi lựa chọn cơ sở y tế của người cao tuổi tại hai tỉnh Hà giang và Điện Biên phân theo nhóm tuổi .10: Hành vi lựa chọn cơ sở y tế của hai tỉnh Hà Giang và Điện Biên phân theo thời gian đến cơ sở y tế.11: Hành vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người cao tuổi ở Hà Giang và Điện Biên phân theo khu vực .12: Hành vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người cao tuổi ở Hà Giang và Điện Biên phân theo giới tính .13: Tình hình khám sức khỏe của người cao tuổi phân theo khu vực 51 Bảng 2.14: Hành vi khám sức khỏe của hai tỉnh Hà Giang và Điện Biên phân theo giới tính .15: Tình hình khám sức khỏe của hai tỉnh Hà Giang và Điện Biên phân theo nhóm tuổi. 55 DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 2.1: Mức độ khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi phân theo tỉnh .2: Hành vi khám chữa bệnh khi thấy sức khỏe giảm sút của người cao tuổi phân theo thu nhập bình quân trên tháng .3: Tình hình người cao tuổi khám sức khỏe định kỳ phân theo nguồn tiền chi cho khám chữa bệnh. Tính cấp thiết của đề tài Trong một vài năm trở lại đây do tỷ suất sinh, tỷ suất chết giảm, tuổi thọ trung bình tăng làm tỷ lệ người cao tuổi nước ta có sự thay đổi đáng kể cả về quy mô cũng như tuổi thọ so với tổng dân số.
Theo dự báo của Tổng cục Thống kê [30], đến năm 2017, tỷ lệ người cao tuổi đã chiếm hơn 10% dân số. Tuy nhiên chỉ một năm sau đó Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số, sớm hơn 6 năm so với dự báo. Báo cáo tổng kết cuối kỳ của Bộ Y tế [2] cũng cho thấy tuổi thọ trung bình tính từ khi sinh của người Việt có xu hướng tăng từ 72,9 tuổi năm 2010 lên 73,3 tuổi năm 2015 (70,7 tuổi ở nam và 76,1 tuổi ở nữ), tính đến năm 2016, tuổi thọ trung bình tính từ khi sinh đạt 73,4 tuổi. Mặc dù tỷ lệ người cao tuổi đang có xu hướng tăng trong giai đoạn gần đây.
Tuy nhiên, sức khỏe của người cao tuổi là một trong những vấn đề đáng lo ngại. Người cao tuổi Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề “thọ nhưng không khỏe”. Tuổi thọ của người cao tuổi có xu hướng tăng lên đi cùng với nó gánh nặng về bệnh tật cũng có xu hướng tăng theo. Mô hình bệnh tật ở người cao tuổi Việt Nam những năm gần đây đang có xu hướng thay đổi từ bệnh lây nhiễm sang bệnh không lây nhiễm [4], từ bệnh cấp tính sang bệnh mãn tính.
Trung bình mỗi người cao tuổi mang trong mình 3 bệnh mãn tính. Việc người cao tuổi mắc cùng một lúc quá nhiều bệnh mãn tính gây khó khăn trong quá trình khám và điều trị, đặc biệt là ở các khu vực miền núi – khi trình độ chuyên môn cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình khám chữa bệnh còn khá thiếu thốn [21]. Ở các vùng nông thôn Việt Nam nói chung và ở khu vực miền núi Tây Bắc nói riêng, hệ thống an sinh xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi. Do điều kiện sức khỏe cũng như hoàn cảnh sống và 1 khoảng cách đến cơ sở y tế, khi có nhu cầu khám chữa bệnh nhiều người cao tuổi lựa chọn đến khám tại các Trạm Y tế.
Tuy nhiên, cơ cở vật chất của Trạm Y tế khu vực Tây Bắc thường chỉ được trang bị những thiết bị cấp cứu, sơ cứu ban đầu. Ngoài ra, trình độ chuyên môn của nhiều y, bác sỹ còn yếu, máy móc cấp về không sử dụng được, do đó khó có thể xử lý cũng như đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi. Ở khu vực Tây Bắc, việc chi trả trong quá trình khám chữa bệnh dường như trở thành gánh nặng cho nhiều người cao tuổi do nghề nghiệp chủ yếu trước đây là nông dân, trồng trọt dưới hình thức du canh du cư, kinh tế gia đình khó khăn không có tích cóp trước đó, nên nhiều người dù có bệnh, dù mong muốn đến các cơ sở y tế tuyến trên để khám chữa nhưng do không đủ khả năng chi trả nên quyết định “ủ bệnh”. Cũng tại khu vực Tây Bắc, theo thói quen của địa phương, các hộ gia đình trong đó có hộ gia đình người cao tuổi tương đối khác nhau.
Do trình độ học vấn ở mức thấp, thu nhập thấp, không giao tiếp, nói chuyện được bằng tiếng việt do đó người cao tuổi gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các kiến thức chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh. Chính vì vậy, hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi dựa chủ yếu vào kinh nghiệm dân gian truyền lại của cộng đồng. Do hạn chế về địa bàn nghiên cứu của số liệu, chính vì vậy, tác giả quyết định chọn thêm tỉnh Hà Giang để so sánh với địa bàn nghiên cứu nhằm phân tích rõ hơn sự khác biệt giữa khu vực miền núi phía bắc của Việt Nam. Xuất phát từ thực tế này, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Sự khác biệt trong hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi ở khu vực miền núi Tây Bắc hiện nay – Qua phân tích số liệu tại 2 tỉnh Hà Giang và Điện Biên”.
Nghiên cứu muốn hướng đến tìm hiểu thực trạng tình hình khám chữa bệnh của người cao tuổi ở khu vực này, những khác biệt về giới tính, độ tuổi, khu vực nông thôn – đô thị, địa bàn cư trú trong hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi trong quá trình khám chữa bệnh, từ đó đưa ra những kết 2 luận phù hợp góp phần cải thiện thêm tình hình khám chữa bệnh của người cao tuổi ở khu vực miền núi Tây Bắc nói chung. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trên thế giới, kể cả ở Việt Nam và nước ngoài, đã có không ít công trình, bài báo nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe, cũng như khám chữa bệnh của người cao tuổi. Qua các ấn phẩm đã công bố, các tác giả không chỉ đưa ra các định nghĩa mà còn đi sâu vào tìm hiểu thực trạng, khó khăn trong cách tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh. Với đối tượng vừa đa dạng vừa phong phú này, các nhà khoa học đi trước đã đạt được không ít thành tựu quan trọng.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ đi vào tìm hiểu các nghiên cứu liên quan đến hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi. Cụ thể là: bức tranh tổng quan già hóa dân số, tình hình chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh của người cao tuổi và khó khăn trong tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi. Già hóa dân số Già hóa dân số đang diễn ra ở trên tất cả các khu vực và các quốc gia ở các tốc độ khác nhau. Già hóa dân số đang tăng với tốc độ nhanh nhất ở các nước đang phát triển trong đó có những nước có nhóm dân số trẻ đông đảo.
Hiện nay có đến 7 trong số 15 nước có hơn 10 triệu người già thuộc các nước đang phát triển [32]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trung bình cứ một giây có hai người bước vào tuổi 60, tức mỗi năm thế giới có thêm khoảng 58 triệu người 60+. Trung bình cứ 9 người sẽ có một người 60+ và tỷ số này sẽ là 5:1 vào năm 2050. Hiện nay, thế giới có khoảng 901 triệu người cao tuổi (năm 2015), chiếm 12,3% dân số.
Số này sẽ tăng lên hơn hai tỷ người vào năm 2050, chiếm 22% dân số thế giới [16] [36]. Già hóa dân số được coi là thành tựu của quá trình phát triển. Hiện nay có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi; trong khi đó 5 năm trước đây chỉ có 19 quốc gia đạt 3 con số đó. Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên.
Đến năm 2012, số người cao tuổi đã tăng lên đến gần 810 triệu người. Dự báo đến năm 2050 con số này sẽ tăng lên 2 tỷ người [32]. Tỷ lệ nữ cao tuổi trên toàn cầu chiếm đa số trong tổng dân số người cao tuổi. Tính đến năm 2012, cứ 100 nữ giới từ 60 tuổi trở lên thì có 84 nam giới [32].
Đi liền với những thành tựu trên, quá trình già hóa dân số cũng tạo ra nhiều thách thức về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng trên toàn cầu [32]. Già hóa khiến nhiều quốc gia trên thế giới rơi vào tình trạng thiếu lao động, tạo nên gánh nặng cho ngành y tế cũng như phúc lợi xã hội của đất nước. Cụ thể hơn, già hóa dân số còn dẫn đến những sự thay đổi trong nhân khẩu học. Điều này đặt ra những thách thức mới cho các gia đình, cộng đồng và các quốc gia nói chung, đặc biệt là mô hình hạt nhân, ít thế hệ sinh sống trong một gia đình, trong việc quan tâm đến người cao tuổi.
Không những thế, sự gia tăng nhanh chóng số lượng người cao tuổi tạo ra gánh nặng cho ngành y tế, gánh nặng cho các cơ sở khám chữa bệnh nói chung cũng như chi phí cho các dịch vụ này nói riêng [38] [39].