ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư dạ dày là bệnh ác tính thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới. 1 Theo Globocan , ước tính có khoảng một triệu bệnh nhân ung thư dạ dày mới trong năm 2020, đứng hàng thứ 5 trong các loại bệnh ác tính thường gặp nhất. Phẫu thuật triệt căn hiện nay vẫn là phương pháp chủ yếu trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn 2-5 sớm cũng như giai đoạn tiến triển. Phạm vi cắt dạ dày phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, vị trí của khối u là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định phạm 6,7 vi cắt dạ dày cũng như mức độ nạo hạch lympho đi kèm.
Các khối ung thư dạ dày ở phần ba giữa hay thân bị có thể xem xét phẫu thuật cắt dạ dày, nạo hạch triệt căn, giữ lại 1 phần nhỏ dạ dày, nhằm giảm các nguy cơ biến chứng của cắt toàn bộ dạ 8-11 dày, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống sau mổ. 12 Phẫu thuật cắt gần toàn bộ dạ dày điều trị ung thư dạ dày được Takagi báo cáo đầu tiên vào năm 1980. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu, kể cả mổ mở, cũng như mổ nội soi, đề nghị phương pháp phẫu thuật cắt gần toàn bộ dạ dày, hoặc cắt 95% dạ 8,12- dày trong điều trị những bệnh nhân ung thư dạ dày ở phần ba giữa hoặc thân vị 15 8. Nghiên cứu của Jiang có đề cập đến tiêu chuẩn của phẫu thuật cắt gần toàn bộ dạ dày, với yêu cầu mỏm dạ dày còn lại cách chỗ nối thực quản – tâm vị 2 – 3 cm.
7 Đối với ung thư 1/3 giữa dạ dày, sau khi đảm bảo tiêu chuẩn bờ cắt an toàn , phẫu thuật cắt gần toàn bộ dạ dày vừa đảm bảm yêu cầu về mặt ung thư học, vừa giảm được các nguy cơ biến chứng của miệng nối thực quản – hỗng tràng, vừa giúp bảo tồn chức năng phần dạ dày còn lại. 16 Phân tích gộp của Jiang so sánh phẫu thuật mổ mở cắt gần toàn bộ dạ dày và cắt toàn bộ dạ dày trong điều trị ung thư dạ dày cho kết quả kết quả tai biến biến chứng thấp, và kết quả về mặt ung thư học chấp nhận được với điều kiện bờ cắt gần đảm bảo không còn tế bào ung thư. Tuy nhiên, PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày vẫn còn đối diện với nhiều vấn đề khó khăn, như xác định chính xác tổn thương trong mổ, đặc biệt là u giai đoạn sớm hoặc tổn thương dạng thâm nhiễm, đảm bảo bờ cắt gần sạch tế bào ung thư, phẫu thuật cắt trọn khối, làm miệng nối an toàn hoàn toàn trong ổ 2 15,17,18 bụng, tính an toàn về kết quả ung thư học. Các nghiên cứu về PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày trong điều trị ung thư dạ dày nghiên cứu hồi cứu với cỡ mẫu thực hiện PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày còn nhỏ, chưa có nghiên cứu đa trung tâm, thời 8,10,11,15,19-22 gian theo dõi còn tương đối ngắn, chưa có nghiên cứu so sánh mù đôi.
Tại Việt Nam, hầu như chưa có nghiên cứu nào đề cập đến kỹ thuật PTNS cắt gần 23 toàn bộ dạ dày. Chúng tôi báo cáo năm 2020 bước đầu cho thấy tính an toàn và khả thi của PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày, tuy nhiên cỡ mẫu còn nhỏ, thiếu các dữ liệu đánh giá tình trạng dạ dày sau mổ và kết quả về mặt ung thư học. Câu hỏi đặt ra trong PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày, nạo hạch D2 trong điều trị ung thư dạ dày trong tình hình thực tế ở Việt Nam là: - Về mặt kỹ thuật: Tỉ lệ thành công ra sao? Tỉ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ như thế nào? - Chất lượng cuộc sống, tình trạng dinh dưỡng và tình trạng phần dạ dày còn lại sau mổ như thế nào? - Về mặt ung thư: Khả năng nạo hạch lympho, tỉ lệ tái phát, di căn, tỉ lệ sống thêm toàn bộ sau mổ như thế nào? Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi thực hiện đề tài “Kết quả của phẫu thuật nội soi cắt gần toàn bộ dạ dày điều trị ung thư dạ dày” nhằm đánh giá vai trò của PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày điều trị UTDD liên quan đến phần ba giữa của dạ dày. Chúng tôi đưa ra các mục tiêu nghiên cứu như sau: 1.
Xác định tỉ lệ thành công, tỉ lệ tai biến, biến chứng và tử vong trong vòng 90 ngày sau mổ của PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày – nạo hạch D2 trong điều trị ung thư dạ dày. Xác định nồng độ hemoglobin, albumin trong máu, tỉ lệ viêm thực quản trào ngược, viêm phần dạ dày còn lại, ứ đọng thức ăn và dịch mật 1 năm sau PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày – nạo hạch D2 điều trị ung thư dạ dày. Xác định tỉ lệ tái phát, di căn, tỉ lệ sống thêm 1 năm và 3 năm sau PTNS cắt gần toàn bộ dạ dày – nạo hạch D2 điều trị ung thư dạ dày. TỔNG QUAN 24 Ung thư dạ dày là một bệnh liên quan đến di truyền, đa yếu tố , làm ảnh hưởng đến chức năng sinh lí và tâm lí xã hội của con người.
Ung thư dạ dày là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và gây hao tốn chi phí y tế nhiều ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Tỉ lệ và tử vong do ung thư dạ dày thay đổi tùy theo vị trí 25 địa lí, văn hóa xã hội và điều kiện kinh tế của từng vùng. Hơn 70% các trường hợp ung thư dạ dày là ở các nước đang phát triển, với hơn một nửa số lượng các trường hợp ở các nước Đông Á, đặc biệt là Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản trong khi tần suất thấp nhất ở các nước Bắc Mỹ. Điều trị ung thư dạ dày ở các nước phương Tây tập trung vào nhóm các ung thư giai đoạn tiến triển nơi có nguy cơ và tỉ lệ ung thư dạ dày thấp.
Nhưng ở các nước châu Á, nơi có tỉ lệ ung thư dạ dày cao, các nguồn lực tập trung vào các chiến lược ngăn ngừa cũng như phát hiện và điều trị ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là những quốc gia đi đầu trong việc phát hiện và điều trị ung thư dạ dày giai đoạn sớm, và điều này được đặt ra do tần suất ung thư cao ở các nước này. Phân loại về ung thư dạ dày 1. Phân loại về đại thể Có nhiều cách phân loại khác nhau về đại thể ung thư dạ dày.
Năm 2011, 26 Hiệp hội ung thư dạ dày Nhật Bản đã phân chia về mặt đại thể ung thư dạ dày thành 6 type, trong đó type 0 là dạng ung thư dạ dày sớm (trong type này lại được phân chia thành 5 thể nhỏ), 5 type còn lại là dạng ung thư dạ dày tiến triển. Đây được xem là bảng phân loại dễ sử dụng và phổ biến nhất hiện nay (bảng 1.1 Phân loại về đại thể của ung thư dạ dày. U khu trú ở niêm mạc, dưới niêm mạc và chia thành các nhóm nhỏ Dạng lồi, dạng polip, dạng cục, nhú nhung mao phát triển và Type 0-I nổi lên trên niêm mạc Dạng phẳng gồ, phát triển ở niêm mạc, ranh giới rõ, hơi Type 0-IIa cao hơn so với niêm mạc xung quanh. Type 0 Dạng phẳng dẹt, phát triển ở niêm mạc, mảng nhỏ, Type 0-IIb chắc, phẳng so với niêm mạc xung quanh.
Dạng phẳng lõm, lõm nông so với niêm mạc xung quanh, bề Type 0-IIc mặt xước, dịch phù bao phủ. Type 0-III Dạng loét, ổ loét có độ sâu khác nhau. Type 1 Dạng sùi, giới hạn rõ, u có cuống hoặc đáy rộng xâm lấn thành dạ dày. Dạng loét, bờ rõ và nhô cao, nền ổ loét loang lổ, thành ổ loét nhẵn, có Type 2 thể có xước nông.
Dạng loét xâm lấn, bờ loét lẫn với niêm mạc bên cạnh, đáy xâm lấn thành Type 3 dạ dày. Xâm lấn lan tỏa (nhiễm cứng thành dạ dày), ranh giới không rõ, thành Type 4 dạ dày cứng, lòng hẹp. Type 5 Không xếp loại. 26 Nguồn: Takeshi Sano, 2011 1.
Phân loại về vi thể Năm 2011, Hiệp hội ung thư Nhật Bản đưa ra bảng phân loại chi tiết, bao gồm phân 26 chia các type thường gặp thành các subtype chi tiết. Đối với ung thư biểu mô (UTBM) của dạ dày có thể được phân chia như bảng 1.2 Phân loại về vi thể của ung thư biểu mô của dạ dày Type mô học Mã ICD UTBM tuyến nhú 8260/0 Biệt hóa tốt UTBM tuyến ống Biệt hóa vừa 8211/3 Thể thường gặp Dạng đặc UTBM tuyến biệt hóa kém Dạng không đặc UTBM dạng tế bào nhẫn 8490/3 UTBM tuyến nhầy 8489/3 U carcinoid 8240/3 UTBM nội tiết 8401/3 UTBM đệm lympho UTBM tuyến dạng tế bào gan Thể đặc biệt UTBM tuyến – gai 8560/3 UTBM tế bào gai 8070/3 UTBM không biệt hóa 8020/3 UTBM khác 26 Nguồn: Takeshi Sano, 2011 1. Phân loại theo giai đoạn bệnh Hệ thống phân loại phổ biến nhất hiện tại là hệ thống phân loại TNM của Hiệp hội Phòng chống Ung thư Quốc tế (UICC), dựa theo 3 yếu tố: khối u (T, tumor), hạch 27 (N, nodes), và di căn xa (M, metastasis). Hệ thống phân chia về giai đoạn bệnh của UTDD theo phân loại TNM lần thứ 8 được trình bày trong bảng 1.
6 Ung thư dạ dày sớm là ung thư chưa xâm lấn quá lớp cơ niêm (ung thư T1a và T1b) bất kể tình trạng di căn hạch. Ung thư dạ dày tiến triển là ung thư đã xâm lấn qua lớp cơ niêm (T2 trở lên).3 Phân loại mức độ xâm lấn (T) của ung thư dạ dày Mức độ xâm lấn (T) Định nghĩa Tx Không thể xác định u nguyên phát T0 Không có bằng chứng của u nguyên phát Tis Ung thư biểu mô tại chổ U xâm lấn tới lớp cơ niêm (muscularis mucosae) hoặc lớp dưới niêm mạc T1 T1a U xâm lấn tới lớp niêm T1b U xâm lấn tới lớp cơ niêm T2 U xâm lấn tới lớp cơ (muscularis propia) U xâm lấn tới lớp mô đệm dưới thanh mạc nhưng chưa T3 tới phúc mạc tạng hay các cấu trúc lân cận U xâm lấn ra thanh mạc hoặc các cấu trúc lân cận T4 T4a U xâm lấn ra thanh mạc T4b U xâm lấn vào các cấu trúc lân cận 27 Nguồn: Brierley JD, 2016 7 Bảng 1.