CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIẢI PHẪU VÙNG ĐẦU CỔ 1.1 Hệ xương – khớp Cột sống cổ là vùng cột sống từ nền sọ đến đốt sống ngực 1. Do có những đặc điểm giải phẫu đặc biệt mà cột sống cổ có tầm vận động lớn nhất so với những vùng còn lại. Cột sống cổ gồm 7 đốt sống được gọi tên từ C1 đến C7, được chia thành 2 phần: đốt sống cổ cao và đốt sống cổ thấp (Hình 1.1: Các đốt sống cổ Nguồn: Principle of Anatomy and Physiology [76] 1.1 Các đốt sống cổ cao Các đốt sống cổ cao bao gồm đốt C1 – đốt đội và đốt C2 – đốt trục. Đốt C1 hình dạng vòng nhẫn, bao gồm cung trước nhỏ và cung sau lớn hơn nối nhau ở hai khối bên.
Diện khớp trên hướng lên trên, lõm. Diện khớp dưới tương đối phẳng, hướng xuống dưới, nghiêng khoảng 20o so với mặt phẳng ngang. Đốt C2 có thân sống lớn. 5 và cao, đóng vai trò nâng đỡ cho mỏm răng, là trục xoay cho đốt C1 và đầu.
Diện khớp trên nghiêng xuống khoảng 20o so với mặt phẳng ngang, tương hợp với diện khớp dưới của đốt C1. Diện khớp dưới hướng ra trước và xuống dưới. Các khớp ở đốt sống cổ cao được gọi là khớp sọ - đốt sống bao gồm khớp chẩm – đội và khớp đội – trục. Khớp chẩm – đội được tạo thành bởi hai lồi củ chẩm của xương chẩm và hai diện khớp trên của đốt đội.
Đây là khớp hoạt dịch, có bao khớp đội – chẩm bao ngoài và bên trong có dịch khớp. Khớp đội – trục bao gồm 3 khớp: 2 khớp đội – trục bên và 1 khớp đội – trục giữa. Khớp đội – trục giữa là khớp giữa mỏm răng của đốt trục và diện khớp răng của cung trước đốt đội. Tại đây, có các dây chằng giúp ổn định khớp theo các hướng, đó là dây chằng đỉnh mỏm răng, dây chằng cánh, dây chằng đội – trục, dây chằng chữ thập.
Khớp đội – trục bên là khớp giữa hai diện khớp trên của đốt đội và hai diện khớp dưới của đốt trục. Khớp này là khớp phẳng, như đã nói ở trên, so với mặt phẳng ngang khoảng 20o, tạo thuận lợi tối đa cho cử động xoay của các đốt sống cổ trên [55].2 Các đốt sống cổ thấp Các đốt sống cổ thấp gồm C3 đến C7, có những đặc điểm giải phẫu khá tương đồng nhau. Đốt sống có thân sống nhỏ hình chữ nhật, rộng ngang hơn trước - sau với vỏ xương dày và chắc. Mặt trên thân sống hơi cong lõm theo chiều trái qua phải, hai cạnh bên nhô lên thành mỏm móc.
Mặt dưới thân sống cong lõm từ trước ra sau. Diện khớp trên hướng ra sau và lên trên. Diện khớp dưới hướng ra trước và xuống dưới. Khớp của các đốt sống cổ thấp bao gồm khớp gian đốt sống và khớp gian mỏm.
Khớp gian đốt sống là khớp giữa hai đốt sống liền kề từ đốt C2 trở xuống, ở giữa là đĩa đệm. Đĩa đệm có khả năng thích nghi với những cử động của đốt sống, hấp thu chấn động, truyền lực tải. Khớp gian mỏm được tạo bởi diện khớp dưới của đốt sống trên và diện khớp trên của đốt sống dưới. Các khớp này tạo một góc khoảng 45o so với mặt phẳng ngang, tạo thuận lợi cho cử động trong không gian ba chiều, gấp – duỗi, nghiêng bên và xoay [55].2 Hệ cơ Hệ cơ vùng cổ bao gồm nhóm cơ gấp và nhóm cơ duỗi do các nhánh của thần kinh gai sống chi phối.1 Hệ thống cơ gấp Bao gồm cơ ức đòn chũm, cơ bậc thang, cơ dài cổ, cơ dài đầu, cơ thẳng đầu trước và bên.
Đặc điểm chung của các cơ gấp là khi co cơ một bên, giúp nghiêng cổ sang bên đó, khi co cơ hai bên thì gấp cổ và đầu.2: Cơ gấp cổ sâu vùng cổ Nguồn: Gray’s Anatomy. The anatomical basis of clinical practice [70] Trong các cơ này, cơ dài cổ và cơ dài đầu được gọi là các cơ gấp cổ sâu. Cơ dài cổ có nguyên ủy và bám tận ba phần. Phần thẳng có nguyên ủy là thân các đốt sống ngực T1, T2, T3 và các đốt sống cổ C5, C6, C7, bám vào thân các đốt sống cổ C2, C3, C4.
Phần chéo dưới có nguyên ủy thân các đốt sống ngực T1, T2, T3, bám vào củ trước mỏm ngang đốt sống C5, C6. Phần chéo trên có nguyên ủy tại củ trước mỏm ngang đốt sống cổ C3, C4, C5, bám tận vào củ trước đốt đội. 7 nguyên ủy củ trước mỏm ngang đốt sống cổ C3 – C6, bám tận vào mặt dưới phần nền xương chẩm [55] (Hình 1. Do đặc điểm bám vào các đốt sống gần nhau, nên các cơ gấp cổ sâu tạo nên những cử động cục bộ giữa đốt sống này với đốt sống kế cận và đóng vai trò quan trọng trong duy trì độ cong sinh lý cột sống cổ [26], [34].2 Hệ thống cơ duỗi Hệ thống cơ duỗi vùng cổ được chia làm 4 lớp: lớp sâu, lớp bán gai, lớp cơ gối – nâng vai và lớp nông.
Lớp sâu gồm các cơ dưới chẩm và các cơ ngang gai. Các cơ dưới chẩm bao gồm cơ thẳng đầu sau lớn, cơ thẳng đầu sau bé, cơ chéo đầu trên, cơ chéo đầu dưới. Trong đó, cơ thẳng đầu sau lớn, cơ chéo đầu trên và dưới tạo thành tam giác dưới chẩm, có thần kinh chẩm đi qua. Khi các cơ này co thắt nhiều có thể chèn các dây thần kinh chẩm, gây nên đau cổ và đau đầu căng cơ [17], [19] (Hình 1.3: Các cơ dưới chẩm và tam giác dưới chẩm Nguồn: Gray’s Anatomy.
The anatomical basis of clinical practice [70] Lớp bán gai gồm cơ bán gai cổ, cơ bán gai đầu. Lớp cơ gối và cơ nâng vai gồm cơ gối đầu, cơ gối cổ, cơ nâng vai và cơ dài đầu. Lớp nông có cơ thang. Cơ thang có nguyên ủy tại 1/3 trong đường gáy trên, ụ chẩm ngoài, dây chằng gáy, mỏm gai đốt sống C1-T12, bám tận vào 1/3 ngoài bờ sau xương đòn, mỏm cùng vai, mép trên bờ.
8 sau gai vai. Đây là cơ duỗi cổ nằm nông nhất, có thể sờ được trên da và thường bị co thắt trong các trường hợp đau cổ cơ năng [18] (Hình 1. Các cơ duỗi khi co một bên thì thực hiện động tác xoay và nghiêng đầu cổ cùng bên trong khi co hai bên thì giúp duỗi đầu cổ [55].4: Cơ thang Nguồn: Gray’s Anatomy. The anatomical basis of clinical practice [70] 1.1 Cử động trong mặt phẳng đứng dọc Trong mặt phẳng đứng dọc có cử động gấp và duỗi.
Tầm vận động gấp – duỗi tổng cộng được khoảng 120 – 130o. Từ vị trí trung tính, cột sống cổ duỗi khoảng 69o ± 10,35o, gấp 58o ± 8,71o [74]. Tại khớp chẩm – đội, vì là khớp lồi cầu, nên lồi cẩu chẩm sẽ lăn ra sau khi duỗi và lăn ra trước khi gấp trong diện khớp trên lõm của đốt đội. Đồng thời, lồi cầu chẩm sẽ trượt nhẹ ngược hướng với hướng lăn khi gấp – duỗi.
Ở khớp đội – trục, mặc dù cử động chính là xoay, tuy nhiên cấu trúc khớp cho phép gấp và duỗi khoảng 15o. Ở các đốt sống C2 – C7, khi duỗi, diện khớp dưới của. 9 đốt sống trên trượt ra sau và xuống dưới so với diện khớp trên của đốt sống dưới. Điều này ngược lại khi gấp.
Trong mặt phẳng đứng dọc còn có cử động đưa cổ ra trước và đưa cổ ra sau. Cử động đưa cổ ra trước xảy ra khi gấp các đốt sống cổ thấp, đồng thời duỗi các đốt sống cổ cao. Còn cử động đưa cổ ra sau khi duỗi các đốt sống cổ thấp, đồng thời gấp các đốt sống cổ cao (Hình 1. Khi thực hiện cử động đưa cổ ra sau, các cơ gấp cổ sâu sẽ co trong khi các cơ gấp nông co rất ít [59].
Cử động này sẽ thấy trong các bài tập cơ gấp cổ sâu. Từ vị trí trung tính, khả năng đưa cổ ra trước cao hơn so với đưa cổ ra sau, 6,23 cm so với 3,34 cm [55].5: Cử động đưa cổ ra trước (a) và đưa ra sau (b) Nguồn: Kinesiology of The Musculoskeletal System [55] 1.2 Cử động trong mặt phẳng ngang Xoay đầu cổ có vai trò quan trọng trong hoạt động chức năng, đặc biệt là nhìn và nghe. Tầm vận động xoay của toàn bộ vùng cổ là 79o ± 8,89o cho mỗi bên [74]. Khoảng một nửa tầm xoay đầu cổ xảy ra tại khớp đội – trục, còn lại là các đốt sống C2 – C7.
Đặc điểm của khớp đội – trục tối ưu cho cử động xoay trong mặt phẳng ngang cho phép xoay 35 – 40o về mỗi phía với trục xoay chính là mỏm răng. Tại đốt C2 – C7, diện khớp dưới sẽ trượt ra sau và trượt nhẹ xuống dưới khi xoay cùng bên. Ngược lại, diện khớp dưới sẽ trượt ra trước và hơi lên trên khi xoay đối bên [55].3 Cử động trong mặt phẳng trán Vùng đầu cổ có thể nghiêng bên khoảng 35 – 40o cho mỗi bên [74]. Phần lớn cử động này xảy ra ở vùng đốt sống C2 – C7, khi đó diện khớp dưới ở bên nghiêng sẽ trượt xuống dưới, hơi ra sau và diện khớp dưới ở bên đối diện trượt lên trên, hơi ra trước.
Khớp đội – chẩm có thể nghiêng bên khoảng 5o. Nghiêng bên tại khớp đội – trục là không đáng kể [55].3 BỆNH HỌC VÀ CHẨN ĐOÁN 1.1 Đau cổ cơ năng 1.1 Định nghĩa Đau cổ cơ năng là tình trạng đau không có nguyên nhân đặc hiệu xuất hiện ở vùng phía sau cổ từ đường gáy trên xuống tới mỏm gai đốt sống ngực 1, vùng trên gai xương bả vai hai bên, vùng cổ bên tới bờ trên xương đòn [27], [50], [77]. Đau cổ là triệu chứng, không phải là bệnh. Theo Hiệp hội Quốc tế nghiên cứu về đau [52], đau có thể là cấp tính (nhỏ hơn 7 ngày), bán cấp (từ 7 ngày tới 3 tháng) và mạn tính (lớn hơn 3 tháng).2 Dịch tễ Đau cổ cơ năng rất phổ biến với khoảng một nửa dân số thế giới có đau cổ một vài lần trong cuộc đời.
Tần suất cao nhất ở tuổi trung niên 40 – 45 tuổi, nữ nhiều hơn nam. Tại một thời điểm, tần suất đau cổ thay đổi từ 5,9% đến 38,7%. Trong một tuần, tần suất này là 12,5%, trong một tháng là 23,3%, trong một năm là 37,2%. Trong cả cuộc đời, tần suất đó thay đổi từ 14,2% đến 71%, trung bình 48,5% [16].
Nữ giới đau cổ nhiều hơn nam giới [69]. Tỷ lệ tái phát và đau cổ mạn tính cũng rất cao. Phần lớn bệnh nhân đau cổ không thấy hết triệu chứng, với 50 – 85% sẽ bị đau cổ trở lại trong 1 tới 5 năm sau đó.