THỦ THUẬT CHẨN VÀ TRỊ BỆNH 1. Thủ thuật chẩn bệnh Phương pháp tác động cột sống ứng dụng 4 thủ thuật chẩn bệnh là: áp, vuốt, ấn, vê. Thủ thuật áp Thủ thuật áp là thủ thuật chẩn bệnh được tiến hành trước tiên trong phương pháp Tác động cột sống để chẩn bệnh. Mục đích của thủ thuật áp là phát hiện sự biến đổi về nhiệt độ da (cao hoặc thấp hơn bình thường) ở trên hệ cột sống và ngoài phạm vi cột sống để làm cơ sở chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi sự tiến triển của bệnh trong điều trị.
Hình thức của thủ thuật áp là dùng lòng bàn tay (tùy thuộc vào cảm giác của mỗi người mà có thể dùng mu bàn tay) đặt sát với lớp da của những vùng đã quy định, hoặc có yêu cầu trên người bệnh để thao tác theo trình tự của thủ thuật, để xác định được đầy đủ những yêu cầu của phương pháp. Ngoài ra còn có thể dùng máy đo nhiệt độ để thay thế cho thủ thuật áp. Các hình thức của thủ thuật Áp gồm có: Áp định khu và Áp không định khu. Áp định khu tức là hình thức bàn tay thao tác đặt nhẹ sát tới lớp da không quá 5 giây, nhấc bổng tay lên độ 5 giây, rồi lại đặt xuống và nhấc lên, cứ như thế 5-7 lần, có thể đủ để xác định được vùng đó có nhiệt độ cao hay thấp hơn bình thường.
Hình thức thao tác này áp dụng với những vùng trong những trường hợp có định khu. Áp không định khu là hình thức dùng bàn tay đặt nhẹ sát tới lớp da rồi xê dịch liên tục từ nhanh đến chậm tại khu có yêu cầu, độ vài ba lần qua lại là có thể xác định được vùng nhiệt độ đó cao hay thấp hơn bình thường. Hình thức này áp dụng với những trường hợp không định khu. Trước khi thao tác cần chuẩn bị về tư thế và thủ thuật như sau: - Tùy thuộc vào những hạn chế của mỗi người bệnh mà ứng dụng các tư thế đứng, nằm hay ngồi cho thích hợp với việc chẩn bệnh.
- Trước khi thao tác cần qua khâu chuẩn bị để tạo cho bàn tay và ngón tay thêm khả năng nhanh nhậy với cảm giác nóng lạnh khách quan bằng các động tác: xoa hai bàn tay với nhau liên tục, khi cảm thấy bàn tay đã đạt được yêu cầu là mềm mại và nóng ấm (đặc biệt là về mùa đông) mới tiền hành thao tác. Trình tự thao tác được tiến hành trên các khu vực như sau: 1) Áp dụng hình thức áp định khu để xác định nhiệt độ da địa phương, tức là phát hiện sự biến đổi về nhiệt độ da ở trên những khu vực mà người bệnh có cảm giác đau hoặc cảm giác giảm khu trú, như đầu, mình, chân tay vvv… 2) Áp dụng hình thức áp không định khu để xác định nhiệt độ da cột sống, tức là phát hiện sự biến đổi về nhiệt độ da trên cột sống để xác định trọng khu, tạo điều kiện tiến hành thủ thuật vuốt. 3) Áp dụng hình thức áp định khu để xác định nhiệt độ da vùng tương ứng nội tạng tức là sự biến đổi về nhiệt độ da tại các vùng tương ứng với nội tạng đã được ghi trong phần đặc trưng về nhiệt độ da so với nhiệt độ bình thường của những vùng ấy. Thủ thuật vuốt Thủ thuật vuốt là thủ thuật chẩn bệnh được tiến hành thao tác trong phạm vi trọng khu sau khi đã xác định bằng thủ thuật Áp.
Mục đích của thủ thuật vuốt là phát hiện những hiện tượng bệnh lí khu trú trên hệ cột sống như: - Về hình thái đốt sống: Lồi, lõm, lệch (đơn hoặc liên). - Về hình thái lớp cơ đệm: co, cứng, mềm, xơ, sợi, teo. Ngoài ra còn phát hiện các sợi cơ bệnh lí tại các vùng có liên quan với trọng khu để xác định điểm đối động theo quy định của phương thức đối động và phân định các thể hẹp, rộng, lớn làm cơ sở tiến hành thủ thuật ấn. Thủ thuật vuốt dùng đầu ngón hoặc cả thân ngón của các ngón tay chỏ, giữa, nhẫn; có thể dùng 1,2 hoặc cả 3 ngón đặt trên cơ lưng hoặc cột sống người bệnh, thao tác theo hướng kéo hất ngón tay vào lòng bàn tay, tùy theo yêu cầu của phương pháp đã quy định mà có thể thao tác từ nhanh đến chậm, dài hay ngắn, nông hay sâu.
Thủ thuật vuốt có 4 hình thức: - Vuốt dọc tức là vuốt dọc theo hệ cột sống từ trên xuống dưới, trong những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện ngang cơ lưng. - Vuốt ngang tức là vuốt từ cột sống kéo ngang ra cơ lưng, trong những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện dọc theo hệ cột sống. - Vuốt chéo ra tức là vuốt chéo chếch xuống từ cột sống kéo chéo ra ngoài lưng để phát hiện những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện từ cột sống chếch hoặc chéo ngược lên phía trên. - Vuốt chéo vào tức là đặt tay từ ngoài cơ lưng kéo chếnh xuống từ cơ lưng vào cột sống, phát hiện trong những trường hợp lớp cơ bệnh lí biểu hiện từ cột sống chéo hoặc chếch xuống phía dưới.
Chú ý: Khi cần phát hiện hình thái bệnh lí ở lớp cơ trong thì phối hợp với vuốt ngắn ở lớp trong.Trước khi thao tác cần chuẩn bị về thủ thuật và tư thế như sau: Thủ thuật: Tạo cho bàn tay được mềm mại và nóng ấm bằng các động tác nắm vào mở ra nhiều lần, khi các ngón tay hết cứng ngượng thì mới tiến hành thao tác. Tư thế: Căn cứ vào trọng khu, tức là khu vực nhiệt độ cao nhất trên hệ cột sống mà áp dụng các tư thế thích hợp. - Trọng khu ở vùng cổ từ C1 đến C7 thì áp dụng tư thế ngồi đầu cúi gục. - Trọng khu ở vùng lưng trên từ D1 đến D7 thì áp dụng tư thếngồi ngay lưng.
- Trọng khu ở vùng giữa lưng từ D8 đến D12 thì áp dụng tư thế ngồi cong lưng. - Trọng khu ở vùng thắt lưng từ L1 đến L5 thì áp dụng tư thế ngồi ngửa người, đứng cong lưng hoặc nằm nghiêng. - Trọng khu ở vùng hông từ S1 đến S5 thì áp dụng tư thế nằm sấp, nằm chân co, duỗi, hoặc ngồi ngửa người. - Trọng khu ở vùng cụt thì áp dụng tư thế nằm sấp.
Trình tự thao tác Trình tự được tiến hành trên các khu vực như sau: - Thao tác ở phía ngoài cơ thẳng lưng để phân định thể bệnh lí (tức thể lớn). - Thao tác ở phía trong cơ thẳng lưng vào cột sống (tức rãnh sống) để phân định thể bệnh lí (tức thể rộng). - Thao tác trên hệ cột sống để phân định loại hình thái bệnh lí của đốt sống (lồi, lõm, lệnh (đơn hoặc liên) và phân định thể (tức thể hẹp). Hình thức thao tác - Thao tác dài, nhanh, nông, sâu để có khái niệm ban đầu về các hiện tượng bệnh lí trong phạm vi trọng khu và các vùng tương ứng với trọng khu, lớp ngoài và lớp trong.
- Thao tác dài, chậm, nông, sâu để phát hiện về hình thái bệnh lí trong phạm vi trọng khu, lớp ngoài và lớp trong. - Thao tác ngắn, nhanh, nông, sâu để có khái niệm về hình thái lớp có bệnh lí ở lớp trong và lớp ngoài. - Thao tác ngắn, chậm, nông, sâu để xác định hình thái bệnh lí của đối sống và lớp cơ bệnh lí xơ, sợi, dọc, ngang, chéo, vvv… 1. Trình tự thủ thuật - Vuốt trượt: tức là dùng đầu ngón tay vuốt phẩy trượt trên lớp cơ bệnh lí trên một diện hẹp.
- Vuốt chìm: tức là đặt tĩnh ngón tay thao tác trên một diện rộng. - Vuốt dài: tức là vuốt dọc cột sống và cơ lưng, có những trường hợp vuốt dọc hết cột sống, để có khái niệm ban đầu về các khu vực có hiện tượng bệnh lí (có thể vuốt nhanh, chậm, nông, sâu tùy ý). - Vuốt ngắn: tức là vuốt trên khu vực bệnh lí, thao tác có thể ngắn nhất chỉ trong phạm vi của một đối sống, nhanh, chậm, nông, sâu tùy ý. - Vuốt nông: phối hợp thao tác dài, ngắn, nhanh, chậm chủ yếu để phát hiện hình thái bệnh lí khu trú ở lớp cơ ngoài.
- Vuốt sâu: phối hợp với thao tác dài, nhanh, khi vuốt chậm có thể vuốt dài hay ngắn, chủ yếu là để phát hiện hình thái bệnh lí khu trú ở lớp cơ trong. - Vuốt nhanh: phối hợp với vuốt dài ở lớp ngoài, nông để có thể khái niệm về các khu vực có hiện tượng bệnh lí ở lớp cơ ngoài. + Vuốt nhanh phối hợp với dài ở lớp cơ trong để có khái niệm về các khu vực có hiện tượng bệnh lí ở lớp cơ trong. + Vuốt nhanh phối hợp với vuốt ngắn và nông trên khu vực bệnh lí để phát hiện hình thái của những hiện tượng bệnh lí, các đốt sống và cơ lưng ở lớp ngoài.
+ Vuốt nhanh phối hợp với vuốt ngắn và sâu trên khu vực bệnh lí để phát hiện hình thái bệnh lí của các đốt sống và cơ lưng ở lớp trong. - Vuốt chậm: phối hợp với vuốt dài ở lớp nông để phát hiện các khu vực bệnh lí khu trú ở lớp ngoài. + Vuốt chậm phối hợp với vuốt dài ở lớp trong để phát hiện các khu vực bệnh lí khu trú ở lớp trong. + Vuốt chậm phối hợp với vuốt ngắn ở lớp nông để phát hiện hình thái của đốt sống và cơ lưng ở lớp ngoài Tóm lại mục đích chủ yếu của thủ thuật vuốt là phát hiện các hình thái bệnh lí của đốt sống và lớp cơ.
Thủ thuật ấn Thủ thuật ấn là thủ thuật chẩn bệnh được tiến hành thao tác trên lớp cơ bệnh lí khu trú trên hệ cột sống sau khi đã được xác định bằng thủ thuật vuốt. Mục đích của thủ thuật ấn là phát hiện: - Hình thái lớp cơ bệnh lí: Loại không di động, dầy hoặc mỏng, co cứng hoặc mềm. - Cảm giác: đau hoặc giảm. - Vị trí khu trú: lớp cơ ngoài, lớp giữa hoặc lớp trong để tạo điều kiện cho thủ thuật vê tiến hành xác định trọng điểm.
- Thủ thuật dùng phầm mềm ở đầu ngón tay (dùng ngón cái hoặc ngón giữa) thao tác trên lớp cơ bệnh lí bằng hình thức Ấn từ lớp cơ ngoài vào lớp cơ trong, nhanh hoặc chậm, nông hoặc sâu để thực hiện yêu cầu trên. Hình thức thao tác - Thao tác nhanh để có một khái niệm ban đầu về khu vực có hiện tượng bệnh lí khu trú. - Thao tác chậm để xác định loại di động hoặc không di động, lớp cơ dầy hoặc mỏng, cứng hoặc mềm. - Thao tác nông để xác định hiện tượng bệnh lí khu trú ở lớp cơ ngoài.