Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam bước vào tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa với lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, đạt quy mô gần 200.000 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hướng tới mục tiêu 500.000 doanh nghiệp vào năm 2010. Tuy nhiên, hơn 90% các đơn vị này có quy mô vừa và nhỏ, đối mặt với rào cản nghiêm trọng về tích lũy vốn tự có và thiếu tài sản thế chấp để tiếp cận nguồn tín dụng trung - dài hạn từ các ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh đó, cho thuê tài chính nổi lên như một kênh dẫn vốn trung gian bằng hiện vật giàu tiềm năng, giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ mà không bị ứ đọng vốn.

Mặc dù có ý nghĩa kinh tế to lớn, thị trường Việt Nam giai đoạn này mới chỉ hình thành 8 công ty cho thuê tài chính, với quy mô vốn đầu tư còn khiêm tốn trước nhu cầu hiện đại hóa hàng trăm nghìn tỷ đồng của nền kinh tế. Hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách chưa hoàn thiện và thiếu tính đồng bộ.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ bản chất lý luận, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước giai đoạn 1999-2005, từ đó xác lập các giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động cho thuê tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2010.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hoạt động quản lý tại 5 công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại nhà nước và 3 công ty liên doanh, có vốn đầu tư nước ngoài. Kết quả nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao, hướng đến mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng dư nợ cho thuê tài chính trên 25%/năm và kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn toàn ngành dưới ngưỡng an toàn 3-5%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế chính trị về vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước, kết hợp giữa tư tưởng bàn tay vô hình của Adam Smith (1723-1790) và học thuyết can thiệp vĩ mô của John Maynard Keynes (1883-1946). Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự can thiệp của Nhà nước là tất yếu khách quan nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường, duy trì cân đối vĩ mô và định hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất mũi nhọn.

Dưới giác độ kinh tế chính trị học Mác - Lênin, hoạt động cho thuê tài chính phản ánh sự phân tách biện chứng giữa quyền sở hữu pháp lý và quyền sử dụng kinh tế đối với tư liệu sản xuất. Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Cho thuê tài chính: Hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và động sản. Bên cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản, bên thuê nắm quyền sử dụng và trả tiền thuê định kỳ. Thời hạn thuê chiếm tối thiểu 60% thời gian trích khấu hao của tài sản theo quy định.
  • Cho thuê vận hành: Hình thức cho thuê ngắn hạn, thời gian thuê ngắn hơn nhiều so với tuổi thọ kinh tế của tài sản, bên cho thuê chịu mọi chi phí bảo trì, bảo hiểm và rủi ro hao mòn vô hình.
  • Quyền sở hữu kinh tế: Quyền khai thác công năng, hưởng mọi lợi ích sinh lời và chịu các rủi ro vận hành phát sinh từ việc sử dụng tài sản trong suốt thời hạn hợp đồng.
  • Quản lý nhà nước về kinh tế vĩ mô: Sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực pháp quyền của các cơ quan quản lý (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các Bộ ngành) thông qua phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế nhằm thúc đẩy thị trường tài chính phát triển lành mạnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê và hệ thống báo cáo tài chính kiểm toán của 5 công ty cho thuê tài chính thuộc khối ngân hàng thương mại nhà nước từ năm 1999 đến năm 2005.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 100% các công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng thương mại quốc doanh tại Việt Nam (5/5 doanh nghiệp) kết hợp dữ liệu so sánh từ 3 doanh nghiệp liên doanh và hệ thống dữ liệu quốc tế tại Nhật Bản, Malaysia, Indonesia. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn vì khối ngân hàng thương mại nhà nước chiếm giữ hơn 80% thị phần dư nợ cho thuê tài chính của cả nước tại thời điểm khảo sát, đảm bảo tính đại diện tuyệt đối và phản ánh đầy đủ thực trạng thể chế.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa phương pháp trừu tượng hóa khoa học, logic gắn liền với lịch sử, thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng và tham vấn ý kiến chuyên gia đầu ngành. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp lượng hóa chính xác các chỉ số an toàn vốn, bóc tách bản chất kinh tế của các mối quan hệ sở hữu và đánh giá khách quan hiệu lực thực thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong khung thời gian 1999-2006, định hướng 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô dư nợ cho thuê tài chính tại các công ty trực thuộc ngân hàng thương mại có bước nhảy vọt ấn tượng. Tổng dư nợ toàn khối tăng từ 197 tỷ đồng năm 1999 lên 501 tỷ đồng năm 2000, đạt 1.127 tỷ đồng năm 2001 và vượt mốc 1.977 tỷ đồng vào năm 2002 (tăng trưởng gấp 10 lần sau 4 năm). Trong đó, Công ty Cho thuê tài chính II thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dẫn đầu thị phần với dư nợ 587 tỷ đồng năm 2002, theo sau là Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đạt 516 tỷ đồng, Công ty Cho thuê tài chính I - Ngân hàng Nông nghiệp đạt 387 tỷ đồng, Công ty Cho thuê tài chính VietinBank đạt 289 tỷ đồng và Công ty Cho thuê tài chính Vietcombank đạt 198 tỷ đồng.

Thứ hai, cơ cấu thành phần khách hàng có sự chuyển dịch tích cực. Nếu như trước năm 2000, dư nợ cho thuê tập trung trên 70% vào khu vực doanh nghiệp nhà nước thì đến giai đoạn 2002-2005, tỷ trọng cho thuê đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên chiếm hơn 45% tổng dư nợ, phản ánh vai trò hỗ trợ vốn hiệu quả cho khu vực kinh tế tư nhân.

Thứ ba, khung khổ pháp lý quản lý nhà nước bộc lộ sự thiếu đồng bộ và chậm đổi mới. Hệ thống văn bản từ Nghị định 64/CP (năm 1995) đến Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP chưa giải quyết dứt điểm các vướng mắc về quyền đăng ký sở hữu tài sản, xử lý tài sản thu hồi khi khách hàng vi phạm hợp đồng và chưa cho phép công ty cho thuê tài chính tham gia thị trường tiền tệ liên ngân hàng.

Thứ tư, công tác kiểm soát rủi ro và nợ quá hạn còn nhiều lỗ hổng. Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn tại một số đơn vị có thời điểm vượt ngưỡng an toàn 5-7%, nguyên nhân chủ yếu do quy trình thẩm định dự án chưa chuyên nghiệp và thiếu hệ thống chia sẻ thông tin tín dụng tập trung giữa các định chế tài chính.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế trên xuất phát từ việc quản lý nhà nước giai đoạn này thiên về biện pháp hành chính trực tiếp hơn là sử dụng linh hoạt các đòn bẩy kinh tế. Việc áp đặt các tỷ lệ an toàn vốn tương tự như ngân hàng thương mại nhận tiền gửi thông thường làm triệt tiêu tính linh hoạt của nghiệp vụ cho thuê tài chính. Bên cạnh đó, việc thiếu vắng một tổ chức nghề nghiệp như Hiệp hội Cho thuê tài chính làm suy giảm khả năng liên kết ngành và đối thoại chính sách.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Nhật Bản đã rất thành công khi Chính phủ thành lập quỹ bảo hiểm tín dụng cho thuê tài chính để bù đắp rủi ro cho các hợp đồng đầu tư thiết bị của doanh nghiệp nhỏ, đồng thời áp dụng chính sách giảm thuế khấu trừ máy móc công nghệ cao. Tại Indonesia, việc ban hành Pháp lệnh 61/1988 cho phép một công ty tài chính được thực hiện song song cả thuê tài chính lẫn thuê vận hành đã mở rộng biên độ thị trường thêm hơn 40%.

Để phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách, các dữ liệu về dư nợ và cơ cấu danh mục nên được biểu diễn thông qua hệ thống biểu đồ cột trực quan theo chuỗi thời gian 1999-2005 và bảng cân đối cơ cấu tài sản cho thuê (trong đó máy móc xây dựng chiếm khoảng 40%, phương tiện vận tải đường bộ chiếm 35%, dây chuyền chế biến và thiết bị y tế chiếm 25%). Cách trình bày này giúp các nhà quản lý vi mô lẫn vĩ mô theo dõi sát sao mức độ tập trung rủi ro theo từng ngành nghề kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xác lập và hoàn thiện hành lang pháp lý chuyên biệt cho thị trường cho thuê tài chính. Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định mới thay thế các quy định cũ, thống nhất quy trình đăng ký quyền sở hữu động sản cho thuê tại Bộ Tư pháp và Bộ Công an, rút ngắn 50% thời gian thủ tục tố tụng thu hồi tài sản thuê khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Thời gian hoàn thành trước năm 2008 do Văn phòng Chính phủ chủ trì phối hợp với Ngân hàng Nhà nước.

Thứ hai, đổi mới cơ chế điều hành tiền tệ và tạo nguồn vốn kinh doanh linh hoạt. Ngân hàng Nhà nước cần cấp phép cho 100% các công ty cho thuê tài chính đủ điều kiện được tham gia thị trường liên ngân hàng, cho phép phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu doanh nghiệp trung - dài hạn và tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi quốc tế với lãi suất thấp. Mục tiêu nâng tổng quy mô vốn hoạt động của các công ty lên mức tăng trưởng bình quân 20-25%/năm trong giai đoạn 2007-2010.

Thứ ba, xúc tiến thành lập Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò đầu mối chỉ đạo 8 công ty cho thuê tài chính hiện hữu liên kết thành lập tổ chức nghề nghiệp chính thức trước quý IV/2007. Hiệp hội sẽ đảm nhận việc xây dựng cơ sở dữ liệu tín dụng ngành, chuẩn hóa bộ quy tắc thẩm định rủi ro và làm cầu nối kiến nghị chính sách thuế ưu đãi đối với tài sản cho thuê nhập khẩu.

Thứ tư, tái cơ cấu mô hình tổ chức và đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa tại các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại nhà nước cần xây dựng lộ trình cổ phần hóa tối thiểu 2 công ty cho thuê tài chính trực thuộc trong giai đoạn 2008-2010, nâng vốn điều lệ từ mức bình quân 100-200 tỷ đồng lên trên 500 tỷ đồng, đồng thời chuẩn hóa quy trình thẩm định dự án gồm 6 bước khép kín và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dòng tiền cho thuê.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và khung lý luận vững chắc để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi quy chế trích lập dự phòng và hoàn thiện chính sách thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cho thuê tài chính.

Nhóm 2: Ban lãnh đạo ngân hàng thương mại và công ty cho thuê tài chính. Tài liệu là cẩm nang hữu ích giúp các nhà quản trị đánh giá chuẩn xác hiệu quả kinh doanh, tái cấu trúc tổ chức bộ máy, xây dựng chiến lược đa dạng hóa nguồn vốn và hoàn thiện quy trình kiểm soát rủi ro nợ quá hạn theo thông lệ quốc tế.

Nhóm 3: Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) cùng các hiệp hội ngành nghề. Cung cấp hiểu biết chuyên sâu về lợi ích của việc tiếp cận vốn bằng hiện vật không cần tài sản thế chấp, cách thức tối ưu hóa chi phí khấu hao tài sản cố định và phương án hạch toán ngoại bảng để duy trì các chỉ số an toàn tài chính doanh nghiệp.

Nhóm 4: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Tài chính - Ngân hàng, Quản lý kinh tế. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp kinh tế học chính trị với phân tích định lượng vi mô trong việc đánh giá sự vận hành của các định chế tài chính phi ngân hàng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt căn bản giữa cho thuê tài chính và vay vốn ngân hàng thương mại truyền thống là gì?
Cho thuê tài chính tài trợ vốn bằng hiện vật (máy móc, thiết bị) và quyền sở hữu pháp lý thuộc về bên cho thuê trong suốt thời hạn hợp đồng, không bắt buộc tài sản thế chấp bổ sung. Ngược lại, vay vốn ngân hàng tài trợ bằng tiền mặt, bắt buộc phải có tài sản bảo đảm và tài sản mua sắm thuộc quyền sở hữu của bên đi vay ngay từ đầu.

Tại sao Nhà nước không nên áp dụng đồng nhất cơ chế quản lý ngân hàng thương mại cho công ty cho thuê tài chính?
Công ty cho thuê tài chính không trực tiếp huy động tiền gửi ngắn hạn từ dân cư nên không gây rủi ro rút tiền hàng loạt mang tính hệ thống. Việc áp đặt các chỉ số an toàn thanh khoản quá ngặt nghèo của ngân hàng thương mại sẽ bó hẹp khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn của các công ty này cho nền kinh tế.

Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho thuê tài chính tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức nào?
Thị trường ghi nhận tốc độ tăng trưởng rất cao, tổng dư nợ tăng từ 197 tỷ đồng năm 1999 lên 501 tỷ đồng năm 2000, đạt 1.127 tỷ đồng năm 2001 và vượt 1.977 tỷ đồng vào năm 2002, cho thấy sự tăng trưởng gấp 10 lần và chứng minh nhu cầu vốn thiết bị cực kỳ lớn từ cộng đồng doanh nghiệp.

Kinh nghiệm quản lý cho thuê tài chính của Nhật Bản mang lại bài học gì cho Việt Nam?
Nhật Bản thành công nhờ sự trợ lực trực tiếp của Nhà nước qua hệ thống bảo hiểm tín dụng cho thuê tài chính và chính sách bù giá, giảm thuế khấu trừ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư máy móc hiện đại. Đây là gợi mở then chốt để Việt Nam thiết kế các gói kích cầu công nghệ thông qua kênh cho thuê tài chính.

Doanh nghiệp đi thuê tài chính cần đáp ứng các điều kiện pháp lý cơ bản nào?
Theo quy định pháp luật hiện hành, hợp đồng thuê tài chính phải là hợp đồng không thể hủy ngang, thời hạn thuê tối thiểu phải bằng 60% thời gian trích khấu hao tài sản cố định, và tổng số tiền thuê quy về hiện tại ít nhất phải tương đương giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm ký kết.

Kết luận

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận kinh tế chính trị về sự phân tách giữa quyền sở hữu pháp lý và quyền sử dụng kinh tế trong hoạt động cho thuê tài chính.
  • Phân tích toàn diện bức tranh thực tiễn của 8 công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam giai đoạn 1999-2005 với quy mô dư nợ tăng vọt từ 197 tỷ đồng lên gần 2.000 tỷ đồng.
  • Nhận diện chính xác 4 điểm nghẽn thể chế lớn trong công tác quản lý nhà nước về khung pháp lý, cơ chế nguồn vốn, quản trị rủi ro và tổ chức hiệp hội ngành nghề.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp vĩ mô - vi mô mang tính hành động cao, hướng đến mục tiêu phục vụ 500.000 doanh nghiệp và đón đầu làn sóng hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Khẳng định định hướng chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước từ can thiệp hành chính trực tiếp sang điều tiết gián tiếp bằng đòn bẩy kinh tế và luật pháp.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan lập pháp và cơ quan điều hành tiền tệ nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý trong giai đoạn 2007-2008, đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa và nâng cao năng lực tài chính cho các công ty cho thuê tài chính trước năm 2010. Các nhà quản lý, định chế tài chính và doanh nghiệp cần tích cực khai thác những hàm ý chính sách từ nghiên cứu này để tối ưu hóa hiệu quả phân bổ nguồn lực vốn cho nền kinh tế.