Chương 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHCN ở các NHTM trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Trên cơ sở các mô hình nghiên cứu trước đây từ đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Theo tinh thần luật tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2010): NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Như vậy, có thể hiểu chung nhất về NHTM: “Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bão lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động liên quan. Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng”.2 Khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các NHTM, thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tỷ trọng tổng tài sản tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất. Đây là hình thức cấp tín dụng mà theo đó NHTM đưa cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 2017: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” 7 Tóm lại, cho vay KHCN tại NHTM bao gồm các hình thức cho vay mà ngân hàng cung cấp cho các cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm mục đích phục vụ nhu cầu đời sống, đầu tư hay sản xuất kinh doanh.3 Sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Cho vay mua bất động sản, bù đắp tiền mua bất động sản: sản phẩm này được thiết kế dành cho các KHCN có nhu cầu về mua nhà, đất và cần sự hỗ trợ tài chính.
Những khách hàng đã mua nhà ở, ngân hàng vẫn hỗ trợ cho vay bù đắp tiền nhưng nằm trong khoảng thời gian nhất định tùy theo từng chính sách của ngân hàng. Ngoài nhận tài sản bảo đảm là tài sản khác, ngân hàng cũng nhận tài sản là chính căn nhà hoặc thửa đất mà khách hàng mua. Cho vay xây nhà, sửa chữa nhà: sản phẩm được thiết kế nhằm hỗ trợ cho khách hàng xây dựng nhà ở, sửa chữa, trang trí nội thất nhà ở của KHCN. Cho vay sản xuất kinh doanh: sản phẩm này cung cấp cho các KHCN kinh doanh với mục đích: bổ sung vốn lưu động còn thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở kinh doanh, mua máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,.
Cho vay mua phương tiện vận tải: sản phẩm hỗ trợ tài chính cho KHCN mua xe ôtô tiêu dùng, xe tải để kinh doanh, bù đắp tiền mua ô tô. Cho vay hỗ trợ du học: sản phẩm này nhằm hỗ trợ tài chính giúp các gia đình có con em đi du học nước ngoài. Số tiền cho vay có thể được chuyển thẳng cho người nhận tại nước ngoài. Cho vay tiêu dùng: sản phẩm này nhằm đáp ứng nhu cầu về đời sống của khách hàng trong như mua sắm vật dụng gia đình, mua xe, chữa bệnh, du lịch,… Cho vay tín chấp: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có thu nhập ổn định hàng tháng.
Số tiền này nhằm hỗ trợ thêm cho tiêu dùng trong khi chờ đợi thu nhập đến kỳ.4 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân a. Đối tượng vay vốn Đối tượng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đó. Khách hàng cá nhân thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn 8 hóa – xã hội. Vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân cũng rất khác nhau.
Thời gian vay vốn Thời gian vay vốn của KHCN đa dạng, bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn. Đối với những khoản vay bổ sung vốn lưu động phục vụ SXKD thì thời hạn chủ yếu là vay ngắn hạn, những khoản vay phục vụ nhu cầu đời sống của cá nhân và hộ gia đình thì thời hạn vay thường là trung và dài hạn. Quy mô vốn và số lượng các khoản vay So với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn nhưng giá trị vay không nhiều, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng không thường xuyên là do giá trị hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải. Mặt khác đa phần khách hàng vay vốn đã có sự tích lũy từ trước với các tài sản có giá trị lớn có thể tìm đến ngân hàng chỉ để hỗ trợ vay thêm.
Chi phí cho vay Các ngân hàng thường mất nhiều thời gian và nguồn nhân lực để thẩm định, thu thập thông tin về khách hàng trước khi vay mà số lượng các khoản cho vay KHCN lại lớn khiến chi phí để quản lý rất lớn, ngoài ra còn thêm nguồn nhân lực để quản lý các khoản vay bảo đảm thu hồi nợ. Lãi suất cho vay Lãi suất cho vay KHCN đối với từng khoản vay thường lớn khi so sánh với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp do mức vay thấp, tiềm ẩn thông tin bất cân xứng, khách hàng giả mạo thông tin, chứng từ vay vốn,. Điều đó dẫn đến rủi ro cho ngân hàng và được bù đắp bằng lãi suất cao hơn. Ngoài ra, các KHCN thường vay trung và dài hạn thường được điều chỉnh theo thị trường dựa trên cơ sở lãi suất huy động cộng với một biên độ nhất định tùy theo từng ngân hàng quy định.
Rủi ro cho vay Rủi ro trong cho vay KHCN thường cao hơn doanh nghiệp xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu sau: - Nguồn trả nợ chủ yếu từ thu nhập của người đi vay mà tình hình tài chính của cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi tùy theo công việc, sức khỏe của họ nên không dễ dàng vượt qua được khó khăn về tài chính so với một khách hàng doanh nghiệp. 9 - Việc thẩm định và cho vay đối với KHCN thường không đầy đủ, các thông tin cá nhân cung cấp không được minh bạch và rõ ràng như báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Trong khi các khách hàng doanh nghiệp có báo cáo kiểm toán thì KHCN thường có xu xướng che giấu thông tin về tình hình tài chính của mình. Loại nhuận từ cho vay khách hàng cá nhân cao Do rủi ro và chi phí cao nên ngân hàng thường đặt mức lãi suất cao đối với các khoản cho vay KHCN.
Khi số tiền lãi phải đóng cao gây khó khăn cho khách hàng, làm bất lợi đến việc thu hồi nợ của ngân hàng (rủi ro về mặt thanh khoản). Điều đó cho thấy lợi nhuận lớn thì kèm theo rủi ro cao.5 Vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân a. Đối với nền kinh tế xã hội. Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế.
Tín dụng KHCN là kênh hỗ trợ vốn để người dân trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất, do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập. Góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội. Là một phần của tín dụng nói chung, tín dụng KHCN cũng có vai trò tích cực đối với xã hội.
Tín dụng KHCN góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao. Đối với ngân hàng. Góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng. Do có đối tượng khách hàng rất rộng nên việc phát triển tín dụng KHCN sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp.
Thông qua tín dụng cá nhân, ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng còn giúp ngân hàng thuận lợi trong bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản, phát hành – thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử, … Khả năng cung cấp gói sản phẩm dịch vụ tài chính cá nhân đồng bộ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng sẽ tạo 10 nên nét khác biệt cho ngân hàng trong cạnh tranh với đối thủ, do đó góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng. Góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng. Nếu một ngân hàng chỉ tập trung cho vay các doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các khách hàng này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với khách hàng cá nhân.