chương 1 Hoạt động của các NHTM luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và rủi ro tín dụng là loại rủi ro tiềm ẩn nguy cơ cao nhất và quyết định đến sự tồn tại của một ngân hàng. Để đánh giá về rủi ro tín dụng ngân hàng, tác giả đã trình bày tổng quan các nội dung về ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam như: Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của đề tài nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC TRƯNG NGÂN HÀNG VÀ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết liên quan cũng như những kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của các yếu tố đặc trưng ngân hàng và kinh tế vĩ mô đến RRTD tại các NHTM. Nền tảng lý thuyết về rủi ro tín dụng ngân hàng 2.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Fitch (1997): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người đi vay không thanh toán nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Là loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo Santomero (1997): Rủi ro tín dụng phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ của người đi vay. Nó phát sinh từ việc không có khả năng hoặc không có thiện chí để thực hiện các điều khoản trong hợp đồng đã được cam kết trước.
Theo Heffernan (2004): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mà người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản là do việc tăng quá cao tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ. Theo Gup, Kolari, Wiley & Sons (2005): Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng mất khả năng chi trả trong hoạt động tín dụng, từ đó gây ra tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng áp dụng cho cả các khoản vay, phái sinh, các giao dịch về tỷ giá hối đoái, danh mục đầu tư và các hoạt động tài chính khác.
Đối với các khoản cho vay, thì rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay, gây tổn thất cho người cho vay. Theo Gestel và Baesens (2008): Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay bị vỡ nợ và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Rủi ro này xảy ra khi người vay không có khả năng trả nợ hoặc không trả nợ đúng hạn. Tại Việt Nam, theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín 6 dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho rằng: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Từ các quan điểm trên có thể kết luận: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Nếu căn cứ vào khả năng giảm thiểu rủi ro, RRTD được chia ra thành hai loại là rủi ro có hệ thống và không hệ thống. Theo Yurdakul (2013) thì RRTD mà ngân hàng đối mặt có hai thành phần chính, đó là RRTD có hệ thống và không hệ thống. Rủi ro hệ thống bắt nguồn từ những thay đổi của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và ảnh hưởng đến tất cả các thị trường tài chính (tiền tệ và vốn) và tất cả các chứng khoán (tài sản tài chính) được giao dịch trên thị trường.
Mặt khác, RRTD không hệ thống là loại rủi ro được tạo ra bởi một công ty hay các đặc điểm của ngành mà công ty đó hoạt động. Các yếu tố như khả năng quản lý yếu kém, phát triển công nghệ, phát minh mới và những thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng có thể dẫn đến biến động không hệ thống. Rủi ro tài chính, quản lý, hoạt động và công nghiệp là những rủi ro không hệ thống (Tuna, 2009). Rủi ro hệ thống có thể được phân loại như rủi ro thị trường, rủi ro chính trị, rủi ro lạm phát, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động và rủi ro tỷ giá.
Rủi ro tỷ giá liên quan đến những thay đổi có thể xảy ra trong các tài sản hoặc nợ phải trả là kết quả của những thay đổi trong tỷ giá hối đoái. Rủi ro lãi suất được định nghĩa như là khả năng gia tăng nói chung trong lãi suất thị trường. Những thay đổi trong lãi suất thị trường ảnh hưởng đến giá chứng khoán (tài sản tài chính). Rủi ro lạm phát liên quan đến sự không chắc chắn của lợi nhuận kỳ vọng từ các khoản đầu tư trong quá trình lạm phát (Dağlı, 2004).
Rủi ro chính trị là những thay đổi xảy ra trong giá tài sản tài chính và lợi nhuận do những thay đổi trong điều kiện chính trị. Rủi ro hoạt động biểu thị nguy cơ tổn thất phát sinh từ những quy trình nội bộ 7 không đầy đủ hoặc thất bại, con người, và các hệ thống hoặc các yếu tố bên ngoài. Rủi ro thị trường là loại rủi ro mất mát do những thay đổi trong giá trị tài sản tài chính và bao gồm các thành phần như: rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro hoạt động, mà những rủi ro này nằm ngoài sự kiểm soát của nhà đầu tư (Demireli, 2007). Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia ra thành hai loại là rủi ro giao dịch (transaction risk) và rủi ro danh mục (portfolio risk) (Theo Trần Huy Hoàng (2011)).
Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Về rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. Về rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
Về rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại (intrinsic risk) và rủi ro tập trung (concentration risk). Về rủi ro nội tại: rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
Về rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng 8 một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Đánh giá rủi ro tín dụng Việc đo lường chất lượng tín dụng là rất cần thiết trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và mức độ an toàn của các NHTM. Việc đánh giá RRTD giúp các NHTM kiểm soát tốt hoạt động cấp tín dụng và đề ra các giải pháp thích hợp nhằm hạn chế những tổn thất khi rủi ro xảy ra. Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá RRTD là (theo Trần Huy Hoàng (2011)): 2.
Tỷ lệ nợ quá hạn 𝐃ư 𝐧ợ 𝐪𝐮á 𝐡ạ𝐧 𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐧ợ 𝐪𝐮á 𝐡ạ𝐧 = × 𝟏𝟎𝟎% 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 Tỷ lệ trên chỉ đề cập đến những khoản nợ đã quá hạn, mà không đề cập đến những món vay có một kỳ hạn bị quá hạn (lúc này, toàn bộ dư nợ từ kỳ hạn đó trở về sau sẽ bị chuyển nợ quá hạn). Như vậy, chính xác hơn: 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐜ó 𝐧ợ 𝐪𝐮á 𝐡ạ𝐧 𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐝ư 𝐧ợ 𝐪𝐮á 𝐡ạ𝐧 = × 𝟏𝟎𝟎% 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 Quy định hiện nay của NHNN Việt Nam cho phép tỷ lệ nợ quá hạn của các NHTM không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng. Tỷ lệ nợ xấu 𝐃ư 𝐧ợ 𝐱ấ𝐮 𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐧ợ 𝐱ấ𝐮 = × 𝟏𝟎𝟎% 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 2. Hệ số rủi ro tín dụng 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 𝐇ệ 𝐬ố 𝐫ủ𝐢 𝐫𝐨 𝐭í𝐧 𝐝ụ𝐧𝐠 = × 𝟏𝟎𝟎% 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 𝐜ó Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời RRTD cũng rất cao.
Thông thường, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng được chia thành ba nhóm: 9 Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng. Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân hàng. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho ngân hàng là vừa phải.