Chương I: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận 11 CHUONG 2: CO SO LY THUYET 2. Cơ sở lý thuyết về cho vay 2. Khái niệm về cho vay Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010- Luật số: 47/2010/QH12 ngày 16 thang 6 năm 2010: ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định, đó là: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiêu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; cấp tín dụng; mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; cung ứng các phương tiện và dịch vụ thanh toán (Quốc hội, 2010). Trong đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Điều 4, Khoản 16, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010- Luật số: 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010).
Như vậy ở một phạm vi hẹp, thì cho vay chính là hình thức cấp tín dụng bởi NHTM cho các KH. Các khoản cho vay là một món nợ đối với cá nhân hay doanh nghiệp đi vay nhưng lại là một tài sản đối với ngân hàng. So sánh với các tài sản khác, khoản mục cho vay có tính thanh khoản kém hơn và thông thường các khoản cho vay. không thé chuyền thành tiền mặt trước khi các khoản cho vay đó đến hạn thanh toán (Phan Thị Cúc và cộng sự, 2008).
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại (Nguyễn Thị Mùi và cộng sự, 2008). Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tải sản Có của ngân hàng. Thành phần Tài sản Có của ngân hàng bao gồm: Dự trữ (Reserves); Cho vay (loans); Đầu tư (InvestmenÐ); và Tài sản Có khác (Other Assets). Theo Nguyễn Thị Mùi và cộng sự (2008), là nghiệp vụ tín dụng nghiệp vụ của ngân hàng thương mại.
Trong đó ngân hàng thương mại sẽ cho người đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được 12 quá trình sử dụng vốn. Người đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc ho phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả đề hoàn trả nợ vay.
Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn.do chủ quan hoặc khách quan. Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố. Phân loại cho vay Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, hoạt động cho vay sẽ được phân chia thành các loại hình cho vay khác nhau. Các tiêu thức cụ thể là Phân loại theo thời hạn cho vay; Phân loại theo đối tượng cho vay; và Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay.
Phân loại theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến 12 tháng và được sử dụng dé bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp và các nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Cho vay trung hạn: là các món vay có khoảng thời gian trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu dùng cho các mục đích mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. - Cho vay đài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm.
Cho vay dai han nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây dựng nhà ở, cầu đường, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Phân loại theo đối trợng cho vay Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay được phân loại thành cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình; cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV); cho vay đối với DN lớn. - Cho vay đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình: chủ thể vay vốn chính là các cá nhân, hộ gia đình, có nhu cầu vay vốn đề kinh doanh và tiêu dùng. - Cho vay đối với DNNVV: chủ thể vay vốn chính là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong những lĩnh vực khác nhau có quy mô nhỏ lẻ, nhu cầu vốn không lớn.
Tiêu thức phân loại này có thể thay đồi trong quá trình phát triển kinh tế và đặc thù của mỗi quốc gia. - Cho vay đối với doanh nghiệp lớn: chủ thể vay vốn chính là các doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài có quy mô hoạt động kinh doanh lớn, các tập đoàn kinh tế, có khả năng cung cấp hàng hóa dịch vụ với số lượng lớn và ảnh hưởng chỉ phối nền kinh tế. Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay - Cho vay có tài sản đảm bảo được gọi là hình thức cho vay thế chấp: là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như cầm có, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng. tài sản của bên thứ ba.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay tín chấp: là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đi vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3. Loại hình cho vay này thông thường dành cho khách hàng có uy tín cao, khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh thường xuyên có lãi. Cho vay khách hàng cá nhân 2. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay KHCN là một hình thức cấp tín dụng, theo đó, bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định trên nguyên tắc khách hàng vay phải hoàn trả cho bên cho vay đầy đủ số tiền gốc và tiền lãi theo kỳ hạn đã được thỏa thuận và giao kết trong hợp đồng tín dụng.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân + Đối tượng cho vay là các khách hàng cá nhân và hộ gia đình. + Cho vay KHCN có rủi ro cao so với cho vay KHDN vì trong quá trình thâm định cho vay, ngân hàng có ít thông tin mang tính định lượng đề làm cơ sở ra quyết định. Trong khi đó, những yếu tố quan trọng mang tính quyết định đến khả năng hoàn trả nợ vay của KHCN chủ yếu dựa vào định tính và khó xác định, như tư cách của khách hàng, chất lượng của thông tin tài chính. Rủi ro đối với cho vay KHCN có mức 14 độ lớn và được coi là tài sản có có rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng.
Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mắt khả năng chỉ trả hay khi khách hàng có tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc. » Các khoản cho vay KHCN thường có quy mô nhỏ (giá trị khoản vay nhỏ) nhưng số lượng khoản vay nhiều. Đồng thời, lợi nhuận từ hoạt động cho vay KHCN mang lại cao cho NHTM vì lãi suất cho vay thường cao hơn so với lãi suất cho vay khách hàng doanh nghiệp. + Cho vay KHCN là danh mục có chỉ phí cao nhất của ngân hang, do quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay rất lớn nên việc xử lý các bước trong quy trình tín dụng nhiều và liên tục dẫn đến các chỉ phí phát sinh cho ngân hàng cao.
+ Chất lượng thông tin tài chính do KHCN cung cấp thường không đầy đủ và thiếu tính minh bạch. Do khách hàng thường có xu hướng cung cắp những thông tin mang tính chủ quan và có lợi cho chính mình, nhằm đạt được khoản cho vay từ ngân hàng, ví dụ như KHCN thường kê khai thông tin thu nhập cao hơn so với thực tế hoặc cung cấp các giấy tờ giả mạo cho ngân hàng. + Mục đích cho vay đối với khách hàng cá nhân nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình (Khoản 4 - Điều 2, Thông tư 39/2016/TT-NHNN). + Nguồn tra nợ của khách hàng cá nhân không ồn định, có thể biến động theo thời điểm tùy vào khả năng, kinh nghiệm và thu nhập của người đi vay.
+ Quy trình cho vay và thủ tục vay vốn của NHTM đối với KHCN thường đơn giản hơn so với quy trình cho vay đối với KHDN. Cở sở lý thuyết về quyết định vay vốn của khách hàng 2. Quyết định vay vốn Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Quan Minh Nhụt và Huỳnh Văn Tùng (2015), quyết định vay vốn là một quá trình được diễn ra kế từ khi người đi vay hình thành ý thức về nhu cầu, đến khi tìm hiểu thông tin để đưa ra quyết định vay, hoặc 15 lặp lại quyết định vay vốn, trong đó quyết định vay được xem là giai đoạn cuối cùng của quá trình thông qua quyết định vay vốn. Như vậy quyết định vay vốn là kết quả của quá trình chọn lọc, đánh giá các chọn lựa trên cơ sở cân đối giữa nhu cầu và khả năng, giữa giá trị nhận được va tôn thất mắt đi, giữa tổng lợi ích nhận được so với chỉ phí bỏ ra để có được sản phâm đó dưới sự tác động của những người xung quanh, bên cạnh các tình huống bat ngờ xảy ra và những rủi ro khi khách hàng nhận thức được trước khi đưa ra quyết định vay vốn ởmột tổ chức tín dụng (Hà Nam Khánh Giao & Bùi Thị Trà My, 2021).
Quá trình ra quyết định vay vốn của khách hàng Kotler và cộng sự. (2005) cho rằng VIỆC các tổ chức và nhà tiếp thị nhận thức và xem xét một cách có ý thức các hành vi tiêu dùng của họ và các đặc điểm ảnh hưởng đến hành vi mua có ý nghĩa to lớn đối với các tổ chức và nhà tiếp thị.