Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 4 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (khoản 16 điều 4, Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dung). Như vậy, có thể hiểu “Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đến khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của khách hàng vói nguyên tắc hoàn trả cả tiền gốc và lãi suất trong thời gian nhất định. Tùy vào mục đích của từng khách hàng mà các khoản vay tiêu dùng sẽ được sử dụng để trang trải đời sống sinh hoạt: trả góp, y tế, mua sắm hàng hóa dịch vụ hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống: du lịch, du học, xây nhà, mua xe,.2 Phân loại cho vay khách hàng cả nhân 2.1 Căn cứ vào mục đích vay - Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà ở của KHCN hay hộ gia đình. Đặc điểm của khoản vay này là thời gian dài và quy mô vay lớn.
- Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng: là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học tập, giải trí và du lịch,.Đặc điểm của khoản vay này là quy mô nhỏ, thời gian ngắn, rủi ro thấp hon cho vay phục vụ mục đích cư trú. - Cho vay KHCN nhằm mục đích phục vụ Sản xuất kinh doanh (SXKD): Đó là các khoản cho vay để thực hiện các phưong án SXKD nhỏ ở từng hộ gia đình, vay để buôn bán, thuê cửa hàng,.Đặc điểm của khoản cho vay này là thời hạn dài, quy 5 mô tùy thuộc vào phương án kinh doanh của khách hàng, rủi ro của khoản cho vay này rất cao.2 Căn cứ vào phương thức trả nợ - Cho vay KHCN trả nợ một lần khi đáo hạn: Là các khoản vay ngắn hạn của các cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Quy mô của khoản vay là tương đối nhỏ, các khoản vay trả một lần thường ngắn hạn và được dùng để chi trả cho các chuyến đi du lịch, mua sắm dụng cụ gia đình, mua ô tô,. - Cho vay trả góp: Là khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp.
Khoản cho vay được trả làm nhiều lần theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, phương thức này được dùng để tài trợ cho việc mua sắm các vật dụng đắt tiền như ô tô, nhà ở,.hoặc dùng để đầu tư cho SXKD, mua sắm các loại tài sản lưu động. - Cho vay theo thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng ngân hàng cũng như các loại thẻ thanh toán khác đã nhanh chóng được chấp nhận sử dụng, thẻ tín dụng cung cấp một dòng tín dụng thường xuyên và quay vòng mà khách hàng có thể sử dụng bất cứ khi nào họ có nhu cầu. Khách hàng sử dụng thẻ tín dụng có thể vay trả dần hoặc trả một lần vì họ có thể tính tiền mua hàng vào tài khoản thẻ tín dụng của mình. Hiện nay, thẻ tín dụng rất phát triển nhờ công nghệ tiên tiến, điều này giúp cho khách hàng sở hữu thẻ tín dụng có thể tiếp cận đến một số lượng lớn các dịch vụ tài chính, bao gồm cả khoản tiết kiệm và tài khoản thanh toán cũng như hạn mức tín dụng.3 Căn cứ vào hạn mức cho vay - Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa hoặc cung cấp các dịch vụ cho KHCN của họ, theo hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
6 - Cho vay trực tiếp: Khách hàng cá nhân và ngân hàng trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng tín dụng để nhận tiền vay từ ngân hàng hoặc chuyển khoản vào các doanh nghiệp, cá nhân mà họ nợ tiền.3 Khái niệm về quyết định vay von Theo Quan Minh Nhựt và Huỳnh Văn Tùng (2015) định nghĩa quyết định vay vốn là một quá trình được diễn ra kể từ khi người đi vay hình thành ý thức về nhu cầu, đến khi tiến hành tìm hiểu thông tin để đưa ra quyết định vay, hoặc lặp lại quyết định vay vốn, trong đó quyết định vay được xem là giai đoạn cuối cùng của quá trình thông qua quyết định vay vốn.4 Quá trình ra quyết định vay von Khi KHCN có ý định vay vốn thì họ thường tìm kiếm các nguồn thông tin bên ngoài về nhu cầu vay vốn mà họ muốn. Theo Kotler và Armstrong (2003) mô tả quá trình thông qua quyết định vay của KHCN được thực hiện qua các giai đoạn như sau: Hình 2.1 Quy trình ra quyết định vay vốn của KHCN Nguồn: Kotler và Armstrong, 2003 1 2.2 Các mô hình lý thuyết về ý định hành vi 2.1 Lỷ thuyết hành động hợp lỷ TRA (Theory of Reasoned Action) Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người. Nó chủ yếu được sử dụng để dự đoán các cá nhân sẽ hành xử như thế nào dựa trên thái độ và ý định hành vi sẵn có của họ. Quyết định của một cá nhân để tham gia vào một hành vi cụ thể dựa trên kết quả mà cá nhân mong đợi sẽ đến khi thực hiện hành vi đó.
Được phát triển bởi (Ajzen và Fishbein, 1969), lý thuyết bắt nguồn từ nghiên cứu trước đó về tâm lý xã hội, mô hình thuyết phục và lý thuyết thái độ. Theo TRA, phần lớn hành vi có thể được dự đoán bởi thái độ của cá nhân đối vói việc thực hiện hành vi được đề cập, thông qua tác động can thiệp của ý định hành vi (Ajzen và Fishbein 1988; Fishbein và Ajzen 1975). Theo TRA, thái độ là một trong những yếu tố quyết định chính của ý định hành vi và đề cập đến cách mọi người cảm thấy đối với một hành vi cụ thể. Chuẩn mực chủ quan cũng là một trong những yếu tố quyết định chủ yếu của ý định hành vi và đề cập đến cách nhận thức của các nhóm hoặc cá nhân có liên quan như thành viên gia đình, bạn bè và đồng nghiệp có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi của một người.
Ý định hành vi là một chức năng của cả thái độ và chuẩn mực chủ quan đối với hành vi đó. Theo TRA, ý định hành vi là động cơ chính của hành vi, trong khi hai yếu tố quyết định chính đến ý định hành vi là thái độ và chuẩn mực của con người.2 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Ajzen và Fishbein (1988) 8 2.2 Lỷ thuyết hành vi có kế hoạch TPB (Theory of Planned Behavior) Ajzen (1985) đề xuất lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) với mục tiêu rõ ràng là mở rộng phạm vi giải thích của TRA. Theo lý thuyết hành vi của Ajzen (1991) cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng từ ba yếu tố như thái độ với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi. - Yeu tố cá nhân là thái độ cá nhân đối với hành vi về việc tích cực hay tiêu cực của việc thực hiện hành vi; - về ý định nhận thức áp lực xã hội của người đó, vì nó đối phó với nhận thức của áp lực hay sự bắt buộc có tính quy tắc nên được gọi là chuẩn chủ quan; và - Cuối cùng là yếu tố quyết định về sự tự nhận thức hoặc khả năng thực hiện hành vi, được gọi là kiểm soát nhận thức hành vi (Ajzen, 2005).
Lý thuyết cho thấy tầm quan trọng của thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi dẫn đến sự hình thành của một ý định hành vi.3 Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Nguồn: Ajzen (1991) 9 2.3 Các nghiên cứu liên quan trước đây 2.1 Nghiên cứu của Frangos và cộng sự (2012) Mục đích của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn từ các NHTM của khách hàng ở Hy Lạp (Frangos và cộng sự, 2012). Mô hình nghiên cứu của Frangos và cộng sự (2012) đề xuất gồm bốn yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHCN: (1) Yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, mức lương), (2) Chất lượng dịch vụ (Thiết kế cửa hàng, dịch vu khách hàng), (3) Chính sách cho vay của ngân hàng ảnh hưởng đến quyết định vay (ví dụ: điều kiện cho vay, lãi suất, chính sách bảo hiểm/bảo lãnh và chính sách trả góp), (4) Sự hài lòng từ các dịch vụ của ngân hàng làm tăng khả năng vay vốn từ ngân hàng đó. Kết quả chỉ ra rằng các yếu tố sau đây quyết định nhu cầu vay vốn ngân hàng: - Thứ nhất, lãi suất cho vay. Lãi suất thấp hơn làm giảm chi phí của khoản vay, do đó làm tăng nhu cầu vay vốn ngân hàng.
- Thứ hai, yếu tố chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định vay vốn. Đặc biệt, các dịch vụ khách hàng và hình ảnh của ngân hàng ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHCN. - Các yếu tố xã hội, chẳng hạn như tình trạng hôn nhân của người vay, đóng một vai trò quan trọng để nhận được khoản vay ngân hàng.2 Nghiên cứu của Hapzi AU và cộng sự (2017) Hapzi Ali và cộng sự (2017) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng trong việc vay vốn tại NHTM ở Jakarta Indonesia. Nghiên cứu đã xác định được ba yếu tố là (1) chính sách khuyến mãi, (2) vị trí giao dịch của ngân hàng, (3) thủ tục cấp tín dụng đã ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng.
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 100 khách hàng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng bằng kiểm định hồi quy, sử dụng phần mềm SPSS để phân tích.