Chương 1: Tổng quan đề tài. Chương 2: Tổng quan lý luận về các yếu tố tác động tới sự lựa chọn của khách hàng cá nhân khi vay vốn. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày quy trình nghiên cứu, nội dung chi tiết các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, phương pháp xác định cỡ 4 mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, kỹ thuật phân tích thống kê và kiểm định trong nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày các kết quả rút ra từ nghiên cứu, bao gồm: mô tả dữ liệu thu thập được; tiến hành đánh giá và kiểm định thang đo; kiểm định sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Chương 5: Hàm ý quản trị. Dựa trên những hạn chế còn tồn tại và vận dụng những kết quả nghiên cứu ở chương 4 đề xuất giải pháp nhằm cải thiện và phát triển các yếu tố thúc đẩy việc ra quyết định vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á – Chi nhánh Tân Phú của khách hàng cá nhân và kết luận. Phần cuối của bài báo cáo nghiên cứu khoa học là danh sách tài liệu tham khảo và các bảng phụ lục đính kèm.
5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN KHI VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Tín dụng cá nhân tại các Ngân hàng Thương Mại 2. Khái niệm tín dụng cá nhân 2. Tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng với một thời gian nhất định và một khoản chi phí nhất định Theo luật các TCTD năm 2010, cấp tín dụng là việc để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc hoàn trả bằng hoạt động cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Theo quy chế cho vay của các TCTD số 1627/2001/QĐ-NHNN, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và nội dung nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Có nhiều cách định nghĩa về hoạt động cấp tín dụng. Nhưng tóm lại, việc cấp tín dụng phải đảm bảo được hai yếu tố sau: Hoàn trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi Sử dụng vốn đúng cam kết và hiệu quả 2. Tín dụng cá nhân Từ những khái niệm về tín dụng, và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khách hàng cá nhân là đối tượng bao gồm các cá nhân, hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh hoặc không. Vì vậy, tín dụng cá nhân là hình thức cấp tín dụng trong đó NHTM chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho một đối tượng khách hàng cá nhân nêu trên.
Đặc điểm của tín dụng cá nhân Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đưa ra những đặc điểm của tín dụng cá nhân như sau: 6 2. Quy mô và số lượng khoản vay Khách hàng cá nhân thường có hai mục đích vay chính: Thứ nhất là cá nhân, hộ kinh doanh cá thể vay để bổ sung vốn kinh doanh hoặc đầu tư máy móc thiết bị phục vụ công việc kinh doanh. Quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ kinh doanh được pháp luật thừa nhận nhưng do năng lực hạn chế nên quy mô sản xuất kinh doanh thường khá nhỏ. Thứ hai là cá nhân vay để đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng.
phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu trong cuộc sống như mua nhà cửa đất đai, mua sắm vật dụng gia đình, xây sửa nhà, du học… Những khoản vay này đều bị ràng buộc từ phía ngân hàng về các điều kiện như mục đích sử dụng vốn, khả năng tài chính và tài sản thế chấp. Tuy nhiên, số lượng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn do hai nguyên nhân: -Đối tượng của loại hình cho vay này rất đa dạng, đủ mọi thành phần trong xã hội, từ những người có tiềm lực tài chính mạnh đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Chính do sự đa dạng về thành phần đối tượng và sự phát triển kinh tế xã hội, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, trình độ dân trí phát triển dẫn đến nhu cầu sừ dụng vốn cuả khách hàng cá nhân ngày một phong phú và đa dạng. Rủi ro của các khoản tín dụng cá nhân Rủi ro thông tin bất cân xứng: Khi thẩm định cho vay, việc đánh giá thông tin pháp lý của khách hàng, khả năng tài chính, mục đích sử dụng vốn vay thường khó có thể chính xác vả đầy đủ do thông tin thường được thu thập từ một phía khách hàng và không có nguồn tin thứ ba để kiểm chứng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác.
Nếu người vay gặp vấn đề về nhân thân hay tài chính mà khi thẩm định không phát hiện được thì sẽ có nguy cơ không trả được nợ vay cho ngân hàng. Rủi ro tác nghiệp: 7 Đặc điểm của tín dụng cá nhân là nhu cầu vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay nhiều, vì vậy đòi hỏi thời gian xử lý hồ sơ phải nhanh chóng (CBTD). Do đó, trong quá trình thẩm định các cán bộ tín dụng thường hay chủ quan, thẩm định qua loa không thật sự chặt chẽ, hoặc có thể thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thất cho ngân hàng. Đối với cho vay tín chấp, là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở đánh giá uy tín của khách hàng mà không có tài sản đảm bảo, trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì rủi ro này càng tăng mạnh.
Tín dụng cá nhân gây tốn kém nhiều chi phí Do đặc điểm của tín dụng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để tăng trưởng tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác: Thực hiện các công tác quảng bá, tiếp thị, truyền thông để xây dựng hình ảnh thương hiệu ngân hàng và tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng khu vực , địa bàn. Chi phí cho đội ngũ nhân sự bao gồm: lương, thưởng, chi phí công tác và các chi phí khác liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại,. Vai trò của tín dụng cá nhân Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của các NHTM đặc biệt quan trọng, là cầu nối giữa các chủ thể thiếu tiền và các cá nhân, tổ chức cần nguồn vốn. Hoạt động tín dụng cá nhân cũng không phải là ngoại lệ với những vai trò như sau: 2.
Đối với nền kinh tế - xã hội Góp phần tạo sự ổn định cho các thành phần kinh tế: Tín dụng cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trang trải các chi phí từ thiết yếu như tiêu dùng, nhà ở, du học cho đến các chi phí xa xỉ khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Khi cầu tiêu dùng ngày càng cao, sự phát triển của các ngành sản xuất, dịch vụ,. càng mạnh, từ đó kéo theo những chuyển biến tích cực cho nền kinh tế. 8 Góp phần tạo sự ổn định xã hội: Là một phần của tín dụng nói chung, tín dụng cá nhân có vai trò tích cực đối với xã hội.
Góp phần khai thác trôi chảy và hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao. Tín dụng cá nhân giúp kích cầu tiêu dùng trong nền kinh tế, làm cho các ngành sản xuất, dịch vụ phát triển càng mạnh, kéo theo những chuyển biến tích cực cho nền kinh tế như tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần ổn định trật tự xã hội. Đối với ngân hàng Góp phần nâng cao thương hiệu ngân hàng: Thông qua tín dụng cá nhân, hình ảnh thương hiệu của ngân hàng sẽ được phổ biến rộng theo hiệu ứng truyền miệng. Ngoài việc cấp tín dụng cho khách, ngân hàng có thể bán chéo thêm các sản phẩm đính kèm khác, cung cấp gói sản phẩm dịch vụ tài chính cá nhân trọn gói thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng.
Đây cũng là một yếu tố tạo nên sự khác biệt cho ngân hàng trong cạnh tranh với đối thủ, do đó góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng Góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng: Đặc điểm của tín dụng cá nhân là quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, do vậy, với nguyên tắc “tránh để tất cả trứng vào một rổ”, đẩy mạnh tín dụng cá nhân có thể coi là một cách để phân tán rủi ro, giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với các cá nhân, hộ kinh doanh Tín dụng cá nhân có vai trò chu chuyển nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, giúp cho các khách hàng linh hoạt hơn trong việc giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của bản thân. Nhất là trong trưởng hợp mua sắm các hàng hóa thiết yếu có giá trị cao như nhà ở, xe cộ. thay vì phải tích lũy trong thời gian dài đến khi đủ vốn.
9 Điều này hết sức ý nghĩa tại các nước phát triển, là nơi có nền kinh tế chưa đạt trình độ cao, thu nhập người dân còn thấp, trong khi chi phí cho các nhu cầu sở hữu tài sản thiết yếu lại quá cao, thì thông qua các khoản cấp tín dụng của ngân hàng hết sức nhanh chóng và thuận tiện, khách hàng có thể nâng cao chất lượng cuộc sống một cách dễ dàng và vững bền. Ngoài ra, tín dụng cá nhân còn là kênh các NHTM tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình, với điều kiện cho vay đơn giản hơn đối với khách hàng doanh nghiệp, giúp họ có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ 2. Dịch vụ và quyết định lựa chọn dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có nhiều cách định nghĩa.
Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.